Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẢI HẬU

TỈNH NAM ĐỊNH

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 30 - 7 - 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Phạm Trung Kiên.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Văn Đê;

Ông Phạm Văn Lịch.

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Dung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Trần Thị Én - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 61/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Vũ Văn T

, sinh năm 1983; nơi sinh và nơi cư trú: Xóm T, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; dân tộc: Kinh; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Thế T1, sinh năm 1952 (đã chết) và bà Nguyễn Thị R, sinh năm 1956 (đã chết); có vợ là Nguyễn Thị P, sinh năm 1985 và có 03 con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019;

Tiền án:

  • - Ngày 21/4/2005 trộm cắp tài sản, đến ngày 23/8/2005 bị TAND huyện Thuận An, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù. Ngày 02/5/2000 trộm cắp tài sản, đến ngày 29/3/2006 bị TAND huyện Phước Sơn, tỉnh Quảng Nam xử phạt 09 tháng tù. Tổng hợp hình phạt chung của hai bản án, Vũ Văn T phải chấp hành là 24 tháng tù. Đến ngày 29/01/2007, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  • - Ngày 28/02/2005 trộm cắp tài sản, đến ngày 10/5/2007 bị TAND huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xử 24 tháng tù. Đến ngày 01/3/2009, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa chấp hành xong nghĩa vụ bồi thường dân sự.

Tiền sự:

  • - Ngày 05/7/2023, bị Ủy ban nhân dân xã H, huyện H áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã. Đã chấp hành xong ngày 05/01/2024.
  • - Ngày 10/01/2024, bị Công an xã H, huyện H xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản. Đã nộp xong tiền phạt ngày 10/01/2024.

Nhân thân: Ngày 11/02/2020, bị Công an huyện T, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý. Đã nộp xong tiền phạt ngày 20/02/2020.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/4/2024 cho đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện H, tỉnh Nam Định. Có mặt.

- Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại:

  1. Cháu Phạm Thị Khánh L, sinh ngày 01/9/2007;
  2. Người đại diện hợp pháp của cháu Phạm Thị Khánh L: Chị Lê Thị T2, sinh năm 1986 (là mẹ đẻ);

    Cùng địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

    Cháu L và chị T2 đều vắng mặt.

  3. Cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 04/01/2007;
  4. Người đại diện hợp pháp của cháu Nguyễn Huy H: Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1978 (là bố đẻ);

    Cùng địa chỉ: Xóm E, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

    Cháu H và anh V đều vắng mặt.

  5. Cháu Vũ Trung C, sinh ngày 16/9/2007;
  6. Người đại diện hợp pháp của cháu Vũ Trung C: Anh Vũ Văn D, sinh năm 1977 (là bố đẻ);

    Cùng địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

    Cháu C và anh D đều vắng mặt.

  7. Cháu Đỗ Đại L1, sinh ngày 20/11/2007;
  8. Người đại diện hợp pháp của cháu Đỗ Đại L1: Chị Nguyễn Thị T3, sinh năm 1982 (là mẹ đẻ);

    Cùng địa chỉ: Xóm C, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định.

    Cháu L1 và chị T3 đều vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Lê Minh T4, sinh năm 2001; địa chỉ: Xóm A, xã H, huyện H, tỉnh Nam Định. Vắng mặt.

- Người làm chứng:

  1. Anh Nguyễn Trung K, sinh năm 2003; vắng mặt..
  2. Ông Vũ Văn T5, sinh năm 1968; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 00 ngày 27/4/2024, các cháu học sinh đến bể bơi Trung tâm văn hóa thể thao huyện H ở Tổ dân phố số D, thị trấn Y để tập bơi gồm cháu Phạm Thị Khánh L, sinh ngày 01/9/2007; cháu Vũ Chung C1, sinh ngày 16/09/2007; cháu Nguyễn Huy H, sinh ngày 04/01/2007 và Đỗ Đại L1, sinh ngày 20/11/2007. Khi đến nơi, các cháu cho tài sản gồm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng của cháu Vũ Chung C1, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng của cháu Nguyễn Huy H, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng của cháu Phạm Thị Khánh L, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO C40 màu đen của cháu Đỗ Đại L1 để vào 01 ba lô vải màu trắng của cháu L và cháu L cất tài sản trên vào ngăn tủ để đồ (không khoá) của bể bơi rồi đi tập bơi.

Khoảng 15 giờ 15 phút cùng ngày, Vũ Văn T mặc áo chống nắng màu đen, đội mũ lưỡi trai đỏ, quần soóc màu đen, điều khiển xe mô tô nhãn hiệu ANGOX, màu đỏ đen, biển kiểm soát (BKS) 29X5-0161 chở hai con là cháu Vũ Thế Gia B, sinh năm 2015 và cháu Vũ Ngọc D1, sinh năm 2019 đến bể bơi Trung tâm văn hóa thể thao huyện H tập bơi. Sau khi mua vé, T mang đồ của con đến cất tại tủ đựng đồ của khu bể bơi. Thiệu thấy ngăn tủ để ba lô màu trắng của cháu Phạm Thị Khánh L không khóa nên mở tủ, cầm ba lô của cháu L lên và để quần áo của con mình vào rồi đưa cháu B, cháu D1 ra bể bơi dành cho trẻ em tắm còn mình thì ngồi trên bờ trông coi. Thiệu nghĩ đến chiếc ba lô màu trắng của cháu L khi cầm có cảm giác nặng, sẽ có nhiều tài sản nên đã nảy sinh ý định trộm cắp. Sau đó, Vũ Văn T quay lại vị trí tủ đựng đồ, quan sát xung quanh không thấy có ai đã lén lút cầm ba lô của cháu L để sang ngăn tủ cùng hàng ngang (cách 3 ngăn) để tránh sự phát hiện, rồi mở khoá chiếc ba lô thấy bên trong có 04 chiếc điện thoại, gồm 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng, 02 chiếc điện thoại nhãn hiệu Iphone 8 plus màu vàng, 01 chiếc điện thoại Xiaomi POCO C40 màu đen, T cầm lấy 04 chiếc điện thoại trên cho vào túi quần soóc (mỗi bên hai chiếc) và đi thẳng ra chỗ để xe rồi một mình điều khiển xe mô tô BKS 29X5-0161 đi về nhà tại xóm T, xã H, huyện H. Khi về đến nhà, T tháo 4 chiếc sim điện thoại rồi cất giấu 04 chiếc điện thoại trên nóc tủ quần áo tại phòng khách của gia đình. Để tránh bị phát hiện, Vũ Văn T thay trang phục và mặc áo chống nắng màu xanh, quần soóc màu trắng, đội mũ lưỡi trai màu đỏ, điều khiển xe mô tô BKS 29X5-0161 quay lại bể bơi để đón con. Khi đón 02 con về đến nhà, T lấy 04 chiếc điện thoại ra kiểm tra, thấy cả 04 chiếc điện thoại đều bị khoá mật khẩu màn hình nên T điều khiển xe mô tô BKS 29X5-0161 mang theo tài sản trộm cắp đến cửa hàng sửa chữa mua bán điện thoại “Minh Tiến Apple” tại xóm A xã H, huyện H do anh Lê Minh T4 (là cháu họ của T) làm chủ. Gặp anh T4, Vũ Văn T đưa 04 chiếc điện thoại cho anh T4 nói “Đây là mấy cái điện thoại mà bác đã mua trên tàu, cháu xem có mở được không thì bác bán cho”. Do là anh em họ hàng nên anh T4 tin tưởng nguồn gốc

của những chiếc điện thoại này và đã kiểm tra điện thoại. Sau khi kiểm tra anh T4 nói với T có thể mở được mật khẩu màn hình của chiếc điện thoại Iphone 8 plus số IMEI: 359500088977877 và chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi POCO. Thiệu nói “Vậy bác bán cho mày hai chiếc điện thoại mà chưa mở khoá được”, anh T4 đồng ý mua chiếc điện thoại Iphone 7 plus màu vàng và chiếc điện thoại Iphone 8 plus số IMEI: 356111097993443 với giá là 900.000 đồng. Sau đó, anh T4 mở mật khẩu của chiếc điện thoại Iphone 8 plus số IMEI: 359500088977877 và đưa lại cho T, còn chiếc điện thoại nhãn hiệu Xiaomi POCO C40 chưa mở được mật khẩu màn hình nên T để lại cửa hàng, sẽ đến lấy sau. Anh T4 nói tiền công mở mật khẩu 02 chiếc điện thoại cho T là 400.000 đồng, T đồng ý. Đối trừ tiền bán 02 chiếc điện thoại và tiền công mở màn hình thì anh T4 trả cho Vũ Văn T số tiền 500.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản. Sau khi bán điện thoại, T điều khiển xe mô tô đi về nhà, trên đường về đến cây ATM của Ngân hàng M tại Tổ dân phố số A, thị trấn Y, Vũ Văn T vào rút số tiền 500.000 đồng mà anh T4 vừa trả, còn chiếc điện thoại Iphone 8 plus số IMEI: 359500088977877 Thiệu mang về nhà sử dụng.

Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, sau khi tắm xong các cháu L, C1, H, L1 phát hiện bị mất tài sản nên đã đến Công an thị trấn Y, huyện H trình báo. Công an thị trấn Y tiếp nhận tin báo và chuyển đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện H điều tra thụ lý giải quyết theo thẩm quyền.

Đến 20 giờ cùng ngày, biết Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H đang điều tra truy xét và nhận thức được hành vi phạm tội nên Vũ Văn T đến Công an huyện H xin đầu thú, tự giác giao nộp 01 xe mô tô biển kiểm soát 29X5-0161; 01 điện thoại di động Iphone 8 Plus màu vàng, số IMEI: 359500088977877; 04 sim số điện thoại gồm: 0918.748.xxx, 0366.610.905, 0349.765.034, 0326.989.582; 01 áo chống nắng màu xanh, có mũ liền áo, nhãn hiệu Lvewear; 01 áo chống nắng màu đen, có mũ liền áo; 01 quần soóc màu đen; 01 quần soóc màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ trên mũ có chữ VIETHOUSE; 01 đôi dép tông màu đen và số tiền 500.000 đồng.

Anh Lê Minh T4 đã tự giác giao nộp cho Cơ quan điều tra: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus màu vàng, bộ nhớ 128GB, số IMEI: 354924090286421; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng, bộ nhớ 64GB, số IMEI: 356111097993443; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO C40 màu đen, bộ nhớ 64GB, số IMEI: 862598055870000.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 27/KL-HĐĐG ngày 04/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện H kết luận: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 Plus, màu vàng, số Imei: 354924090286421 có trị giá là 2.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số Imei 359500088977877 có trị giá là 3.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu vàng, số Imei 356111097993443 trị giá là 3.000.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO C40, màu đen, số Imei 862598055870000 trị giá là 1.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 9.500.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại 04 chiếc điện thoại và 04 sim điện thoại cho cháu L, cháu C1, cháu L1, cháu H. Sau khi nhận lại tài sản, các bị hại và người đại diện hợp pháp của các bị hại đều không có yêu cầu gì thêm về phần dân sự.

Tại bản Cáo trạng số 64/CT-VKSHH ngày 08/7/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Vũ Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Vũ Văn T từ 24 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2024. Về trách nhiệm dân sự, không ai có yêu cầu nên không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng; áp dụng khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tịch thu cho tiêu hủy 01 áo chống nắng màu xanh, có mũ liền áo, nhãn hiệu Lvewear; 01 áo chống nắng màu đen có mũ liền áo; 01 quần soóc màu đen; 01 quần soóc màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ trên mũ có chữ VIETHOUSE; 01 đôi dép tông màu đen. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng. Trả lại bị cáo Vũ Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGOX màu đỏ đen, biển kiểm soát 29X5-0161.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì với đại diện Viện Kiểm sát. Trong lời nói sau cùng, bị cáo đã nhận tội, hứa sửa chữa lỗi lầm và xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về đoàn tụ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Về hành vi của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo Vũ Văn T tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra; phù hợp lời khai của các bị hại, người đại diện hợp pháp của các bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản và các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập hợp pháp trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 15 giờ 15 phút ngày 27/4/2024, tại bể bơi Trung tâm văn hóa thể thao huyện H thuộc Tổ dân phố số D, thị trấn Y, huyện H, tỉnh Nam Định; Vũ Văn T lợi dụng sơ hở của các cháu học sinh đến tắm tại bể bơi, cất tài sản vào tủ để đồ không khóa, không có người trông coi nên T đã lén lút lấy trộm 04 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 7 plus màu vàng trị giá 2.000.000 đồng của cháu Vũ Chung C1, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng trị giá 3.000.000 đồng của cháu Nguyễn Huy H; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu vàng trị giá 3.000.000 đồng của cháu Phạm Thị Khánh L và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi POCO C40 màu đen trị giá 1.500.000 đồng của cháu Đỗ Đại L1. Tổng giá trị tài sản Vũ Văn T đã chiếm đoạt là 9.500.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Điều 173. Tội trộm cắp tài sản tại Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:

“1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây ..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

  1. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây mất trật tự công cộng, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có thể chất, tinh thần bình thường, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc làm của mình là vi phạm pháp luật, bản thân bị cáo đã nhiều lần bị Toà án kết án phạt tù về tội trộm cắp tài sản, phải đi chấp hành án tại trại giam nhưng không lấy đó làm bài học để sửa chữa bản thân. Vì vậy, cần xử lý nghiêm khắc nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung.
  2. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án phạt tù phải đi chấp hành án tại trại giam và nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính. Bị cáo có 02 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chưa được xóa án tích nên phải chịu tình tiết tăng nặng là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; đã tự giác ra đầu thú nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
  3. Về áp dụng hình phạt chính: Căn cứ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật Hình sự; tiếp tục cách ly bị cáo khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo.
  4. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng. Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, kinh tế khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  5. Về trách nhiệm dân sự: 04 chiếc điện thoại di động bị cáo chiếm đoạt đã được thu hồi nguyên vẹn trả lại cho các bị hại. Đến nay các bị hại và người đại diện hợp pháp của các bị hại đều không có yêu cầu về phần trách nhiệm dân sự đối với bị cáo nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  6. Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, cơ quan điều tra đã thu giữ của Vũ Văn T: 01 áo chống nắng màu xanh, có mũ liền áo, nhãn hiệu Lvewear; 01 áo chống nắng màu đen, có mũ liền áo; 01 quần soóc màu đen; 01 quần soóc màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ trên mũ có chữ VIETHOUSE; 01 đôi dép tông màu đen là trang phục của bị cáo mặc tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội; 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGOX màu đỏ đen, biển kiểm soát 29X5-0161 và số tiền 500.000 đồng.

Xét thấy, chiếc xe mô tô bị cáo sử dụng để chở con đi bơi, bị cáo chỉ nảy sinh ý định trộm cắp tài sản sau khi ngồi chờ đón con về và không sử dụng chiếc xe mô tô khi thực hiện hành vi phạm tội; 02 áo chống nắng, 01 quần soóc màu đen, 01 quần soóc màu trắng, 01 mũ lưỡi trai màu đỏ, 01 đôi dép tông là trang phục bị cáo đã mặc trên người nhưng cũng không nhằm mục đích để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó các tài sản trên không phải là công cụ, phương tiện phạm tội của bị cáo. Tại phiên toà, bị cáo có yêu cầu được nhận lại chiếc xe mô tô để gia đình sử dụng; các đồ dùng là quần, áo, dép, mũ do không còn giá trị nên bị cáo không yêu cầu nhận lại. Do đó cần trả lại chiếc xe mô tô cho bị cáo và tịch thu cho tiêu huỷ các tài sản còn lại là phù hợp quy định tại khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

Đối với số tiền 500.000 đồng do bị cáo bán tài sản trộm cắp cho anh Lê Minh T4 nhưng anh T4 không yêu cầu trả lại số tiền này. Xét đây là tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

  1. Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
  2. Quyền kháng cáo: Bị cáo; các bị hại; người đại diện hợp pháp của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
  2. 1.1. Tuyên bố bị cáo Vũ Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

    1.2. Xử phạt Vũ Văn T 21 (Hai mươi mốt) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 27 tháng 4 năm 2024.

  3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm b, c khoản 2 và điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.
  4. Trả cho bị cáo Vũ Văn T 01 xe mô tô nhãn hiệu ANGOX màu đỏ đen, biển kiểm soát 29X5-0161.

    Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng).

    Tịch thu cho tiêu hủy 01 áo chống nắng màu xanh, có mũ liền áo, nhãn hiệu Lvewear; 01 áo chống nắng màu đen, có mũ liền áo; 01 quần soóc màu đen; 01 quần soóc màu trắng; 01 mũ lưỡi trai màu đỏ trên mũ có chữ VIETHOUSE; 01 đôi dép tông màu đen.

    Vật chứng có đặc điểm theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 18/7/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu.

  5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án;
  6. Buộc bị cáo Vũ Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

  7. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
  8. Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Các bị hại, người đại diện hợp pháp của các bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND + VKSND tỉnh Nam Định;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Nam Định;
  • - VKSND huyện Hải Hậu;
  • - Công an huyện Hải Hậu;
  • - Chi cục THADS huyện Hải Hậu;
  • - UBND xã H;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Phạm Trung Kiên

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vũ Văn T - Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger