|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG TỈNH PHÚ THỌ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2023/HNGĐ-ST
Ngày 29-11-2023
V/v tranh chấp ly hôn
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng
Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Đình Đại
2. Ông Vũ Quang Yên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đoan Hùng tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 186/2023/TLST-HNGĐ ngày 10/10/2023 về việc: “Tranh chấp về yêu cầu ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 72/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 11 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 49/2023/QÐST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2023, giữa các đương sự:
-
Nguyên đơn: Anh Đinh Đức Đ, sinh năm 1987
Nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
-
Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Y, sinh năm 1989
Nơi cư trú: Khu A, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.
(Anh Đ có đơn xin xét xử vắng mặt, chị Y vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Trong đơn khởi kiện và quá trình giải quyết, nguyên đơn là anh Đinh Đức Đ trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh và bị đơn là chị Nguyễn Thị Y kết hôn với nhau vào ngày 16/9/2021 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký tại UBND xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ. Sau ngày cưới, vợ chồng anh ở riêng tại xã B Qúa trình chung sống, vợ chồng anh chỉ hòa thuận được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn do chị Y không có khả năng sinh con mặc dù đã đi khám nhưng vẫn chưa có con. Từ đó mà vợ chồng bất đồng quan điểm, không tìm được tiếng nói chung dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hiện vợ chồng anh đã sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Y.
- Về con chung: Vợ chồng chưa có con chung.
- Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
2. Trong quá trình giải quyết, Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, phối hợp với chính quyền địa phương nơi chị Y cư trú để trực tiếp gặp làm việc, nhưng chị Y cố tình lẩn tránh. Tòa án đã giao các văn bản tố tụng cho mẹ đẻ chị Y là bà Nguyễn Thị S để giao lại cho chị Y nhưng chị Y vẫn không hợp tác và không có mặt, nên Tòa án không thu thập được quan điểm của chị Nguyễn Thị Y.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về tố tụng dân sự: Việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, đều thực hiện đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không chấp hành giấy báo của Tòa án, vắng mặt trong quá trình giải quyết và vắng mặt lần thứ 02 tại phiên tòa không có lý do là chấp hành pháp luật chưa nghiêm túc, làm kéo dài thời gian giải quyết vụ án.
- Về giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
+ Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Đức Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị Y.
+ Về con chung: Không có.
+ Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Không phải giải quyết.
+ Về án phí: Anh Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng dân sự:
[1.1]. Tranh chấp giữa các đương sự trong vụ án này là tranh chấp về hôn nhân và gia đình và nơi cư trú của bị đơn là tại xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ nên Tòa án nhân dân huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2]. Nguyên đơn vắng mặt nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, còn bị đơn vắng mặt tại phiên tòa lần hai không có lý do nên việc xét xử vắng mặt các đương sự là đúng với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[2]. Về yêu cầu, ý kiến của đương sự:
[2.1]. Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa anh Đinh Đức Đ và chị Nguyễn Thị Y đảm bảo các điều kiện kết hôn và không thuộc trường hợp cấm kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình nên đó là hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của anh Đ và chứng cứ thu thập được cho thấy trong quá trình chung sống, nguyên nhân dẫn đến vợ chồng anh chị xảy ra mâu thuẫn là do chị Y không có khả năng sinh con dẫn đến hai bên bất đồng quan điểm, vợ chồng sống ly thân, không quan tâm đến nhau. Điều này chứng tỏ tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng và mục đích hôn nhân không đạt được nên anh Đ yêu cầu ly hôn là có căn cứ, cần chấp nhận.
[2.2]. Về con chung: Không có.
[2.3] Về tài sản chung, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức: Anh Đ không yêu cầu nên không đề cập giải quyết
[2.4] Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Đ phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ: khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228, Điều 238, Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- - Căn cứ: điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Anh Đinh Đức Đ được ly hôn chị Nguyễn Thị Y.
- Về con chung: Không có.
- Về án phí ly hôn sơ thẩm: Anh Đinh Đức Đ phải nộp 300.000 ₫ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ, theo biên lai số AA/2020/0004518 ngày 10/10/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đoan Hùng. Anh Đ đã nộp đủ án phí.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ, anh Đ, Chị Y có quyền làm đơn kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( đã ký) Vũ Văn Thắng |
Bản án số 66/2023/HNGĐ-ST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 66/2023/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐOAN HÙNG, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh Đinh Đức Đ ly hôn chị Nguyễn Thị Y
