|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2023/HSST Ngày 29/11/2023 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thế Đăng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Hải Đăng
Ông Lục Viết Sang
- Thư ký phiên toà: Ông Triệu Quang Hưng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 29/11/2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thế mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 63/2023/HSST ngày 08/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐXXST-HS ngày 16/11/2023 đối với bị cáo:
Lê Văn N; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không có, sinh năm 1990;
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Văn hoá: 7/12; Nghề nghiệp: Tự do; Chức vụ: Không; Bố đẻ: Lê Văn P, sinh năm 1960; Mẹ đẻ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1960; Vợ, con: Chưa có; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự: Không có; Tiền án:
- + Ngày 30/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 13 tháng 20 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nộp xong tiền án phí 200.000đồng, tiền phạt bổ sung 3.000.000 đồng nộp ngày 11/5/2023.
- + Ngày 28/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2013, nộp xong án phí 200.000đồng ngày 19/5/2023.
- + Ngày 21/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xử 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nộp xong án phí ngày 21/5/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/2/2021.
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 28/7/2023, tạm giam từ ngày 30/7/2023. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Anh Đỗ Ngọc T, sinh năm 1985
- Địa chỉ: thôn Đ, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- - Anh Vũ Văn C, sinh năm 1984
- Địa chỉ: thôn Y, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
- - Bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1936
- Địa chỉ: thôn V, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
* Người chứng kiến:
- - Anh Trương Văn T1, sinh năm 1976
- Địa chỉ: thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 10 phút ngày 04/5/2022, tại nhà bếp của Chùa H1, thuộc thôn C, xã H, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, tổ công tác Công an xã H, huyện Y tuần tra phát hiện Lê Văn N, Vũ Văn C, sinh năm 1984, trú tại B, xã H, huyện Y và Đỗ Ngọc T, sinh năm 1985, ở thôn Đ, xã Đ, huyện Y có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy. Tổ công tác đã tiến hành kiểm tra thì Lê Văn N, Vũ Văn C bỏ chạy. Tổ công tác giữ lại được Đỗ Ngọc T để tiến hành lập biên bản sự việc. Vật chứng thu giữ gồm: T2 tại nền bếp nơi các đối tượng ăn cơm 01 (một) túi nilon một đầu có rãnh khóa nhựa và đường viền màu đỏ, bên trong chứa 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, bên trong mỗi đoạn đều đựng một mảnh viên nén màu hồng (nghi là chất ma túy) được niêm phong trong phong bì kí hiệu “A1”; T2 tại ngăn ngoài chiếc ba lô 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, một đầu để hở, bên trong đựng chất bột màu hồng (nghi là chất ma túy) được gói trong túi nilon màu trắng, được niêm phong trong phong bì có kí hiệu “A2”; 01 (một) ba lô bằng vải màu nâu, bên trong có 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màn hình có vết nứt vỡ vỏ màu vàng mặt sau có chữ Sam Sung; 01 (một) chiếc điện thoại kiểu dáng Nokia 1280 vỏ ngoài màu đen; dụng cụ cắt, mài, khoan, cờ lê, mỏ lết, đinh, ốc, vít, mũi khoan, thước; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong đựng 01 (một) máy để nghe nhạc EVD vỏ màu đen và một số quần áo; 03 (ba) điện thoại di động có chữ Masstel tất cả được niêm phong trong 01 (một) thùng catton có kí hiệu “A3”; 01 (một) tờ tiền mệnh giá 50.000đồng; 01 (một) xe mô tô kiểu dáng Dream, màu nâu, gắn biển kiểm soát 98H8 - 5331 xe cũ.
Cùng ngày, Công an xã H, huyện Y tiến hành xét nghiệm chất ma túy đối với Đỗ Ngọc T. Kết quả T dương tính với ma túy Heroine.
Ngày 05/5/2022, Công an xã H bàn giao hồ sơ và vật chứng cho Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an huyện Y để điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định đối với mẫu vật thu giữ nghi là chất ma túy. Tại kết luận giám định số 765/KL-KTHS ngày 10/5/2022 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
5.1. Trong 01(một) phong bì ký hiệu “Al” đã được niêm phong gửi giám định:
04 (bốn) mảnh viên nén màu hồng đựng trong 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín hai đầu, được đựng trong 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy, có tổng khối lượng 0,106 gam, loại Methamphetamine.
5.2. Trong 01(một) phong bì ký hiệu “A2”đã được niêm phong gửi giám định:
Chất bột màu hồng đựng trong 01(một) đoạn ống nhựa màu trắng một đầu hàn kín, một đầu để hở, được gói trong 01(một) gói nilon được gói bằng 01 (một) túi ni lon màu trắng là ma túy, có khối lượng 0,026 gam, loại Methamphetamine.
Quá trình điều tra xác định: Buổi sáng ngày 04/5/2022, Vũ Văn C thuê N và T đến xưởng của anh Giáp Văn T3, sinh năm 1982, ở tổ dân phố V, thị trấn B làm cơ khí. Khoảng 18 giờ cùng ngày, sau khi làm xong công việc thì C điều khiển xe mô tô kiểu dáng Dream của C chở T và N về Chùa H1 để nghỉ ngơi, trên đường về C có mua cơm hộp cho N và T ăn. Khi đến cổng Chùa H1 thuộc thôn C, xã H huyện Y, N xuống xe, còn C và T đi xe vào trong Chùa H1. Tại đây, N gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 400.000đồng tiền ma túy. Sau khi nhận tiền người đàn ông đã đưa cho N 01 (một) túi nilon, một đầu có rãnh khóa nhựa và đường viền màu đỏ, bên trong đựng 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu trắng, trong bốn đoạn ống nhựa màu trắng đều được hàn kín hai đầu, mỗi đoạn đựng 1/2 viên ma túy ngựa dạng viên nén màu hồng. Nguyên cất giấu túi nilon chứa đựng ma túy vào trong túi quần phía trước bên phải, còn người đàn ông bỏ đi đâu N không biết. Nguyên đi bộ vào bếp Chùa H1 để ăn cơm cùng T. Trong lúc T chuẩn bị cơm hộp ra để ăn, C ra nổ xe máy đi về còn N lấy ma túy vừa mua được từ trong túi quần ra để ở nền nhà bếp mục đích sử dụng. Ngay lúc này, lực lượng Công an xã H đến kiểm tra N chạy ra cánh đồng phía sau chùa còn T bị lực lượng công an giữ lại. Sau đó N và C đến phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận làm ăn. Ngày 28/7/2023, do thấy hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, N đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Ngày 30/7/2023, Cơ quan điều tra tiến hành cho bị can Lê Văn N xác định vật chứng. Kết quả Nguyên xác định 01 túi nilon, một đầu có rãnh khóa nhựa và đường viền màu đỏ, bên trong đựng 04 đoạn ống nhựa màu trắng đều đựng ma túy ngựa màu hồng đỏ; 01 đoạn ống nhựa màu trắng một đầu hàn kín, một đầu để hở, được gói trong 01 gói nilon được gói bằng 01 túi ni lon màu trắng là ma túy ngựa là của N.
Ngày 28/7/2023, Cơ quan điều tra cho Lê Văn N thực nghiệm điều tra hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 04/5/2022 tại thôn C, xã H. Kết quả: Nguyên thực hiện thuần tục các động tác mua, bán, tàng trữ trái phép chất ma túy của N.
Ngoài ra, Nguyên khai nhận ngày 02/5/2022 N còn mua ma túy của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000đồng tại thôn C xã H, huyện Y. Sau khi mua được ma túy N đã sử dụng một phần tại Chùa H1 phần còn lại để trong 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng được hàn kín một đầu, một đầu để hở rồi cất tại ngăn bên ngoài chiếc ba lô đựng dụng cụ đi làm của C mục đích để sử dụng dần. Trước khi ra đầu thú N có mua ma túy của người không quen biết và sử dụng tại khu phố F, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận.
Ngày 28/7/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y tiến hành lấy mẫu (nước tiểu) xét nghiệm chất ma túy Lê Văn N và Vũ Văn C. Kết quả N, Cường dương tính với ma túy.
Cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 08/11/2023 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế đã truy tố Lê Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế giữ nguyên bản cáo trạng truy tố bị cáo. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Văn N từ 05 năm 06 tháng tù đến 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 28/7/2023. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo. Tịch thu sung ngân sách nhà nước số tiền 50.000đồng. Tịch thu tiêu hủy toàn bộ các vật chứng khác trong vụ án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Bị cáo không tranh luận mà chỉ đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
1. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện Y; Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thế trong quá trình điều tra, truy tố: Đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
2. Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay là phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm và diễn biến của quá trình bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận:
Hồi 19 giờ 10 phút ngày 04/5/2022, tại Chùa H1, thuộc thôn C, xã H, huyện Y. Tổ công tác Công an xã H tiến hành tuần tra, kiểm soát về an ninh trật tự phát hiện Lê Văn N có hành vi tàng trữ trái phép 0,132 gam chất ma túy Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Lợi dụng quá trình kiểm tra Lê Văn N đã bỏ chạy thoát. Ngày 28/7/2023, Lê Văn N đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Trước đó:
- Ngày 30/3/2011, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 07 tháng tù về tội “Đánh bạc”, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 13 tháng 20 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, nộp xong tiền án phí 200.000đồng, tiền phạt bổ sung 3.000.000 đồng nộp ngày 11/5/2023.
- Ngày 28/9/2012, bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thế xử 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, thời hạn tù tính từ ngày 05/7/2012, chấp hành xong hình phạt tù ngày 12/5/2013, nộp xong án phí 200.000đồng ngày 19/5/2023. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm.
- Ngày 21/5/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh xử 07 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, nộp xong án phí ngày 21/5/2015, chấp hành xong hình phạt tù ngày 08/2/2021. Lần phạm tội này của bị cáo là tái phạm nguy hiểm.
Như vậy, bị cáo đã tái phạm nguy hiểm và cả 03 bản án chưa được xóa án tích nay lại cố ý phạm tội tàng trữ trái phép 0,132 gam chất ma túy Methamphetamine, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên hành vi của bị cáo có đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung tăng nặng là “tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Do đó, bản cáo trạng truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
3. Về hình phạt:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất gây nghiện của nhà nước, ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương.
- Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo: không có
- Xét về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thì thấy: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
- Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã nhiều lần bị kết án.
Từ tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo nêu trên. HĐXX áp dụng hình phạt tù cách ly khỏi xã hội một thời gian tương xứng nhằm giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, không có tài sản gì nên không áp dụng hình phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo.
4. Đối với các hành vi khác, đối tượng khác trong vụ án.
- Tại cơ quan điều tra, Vũ Văn C khai: Ngày 04/5/2022 C thuê N và T đi làm hàn xì tại xưởng nhà anh T3. Đến tối C mua cơm rồi chở T, N về Chùa H1 nghỉ ngơi ăn cơm. Sau đó C điều khiển xe máy đến khu vực thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang mua ma túy heroine của một người đàn ông không quen biết với giá 100.000đồng. Sau khi mua được ma túy C điều khiển xe về đến khu vực thị trấn B thì sử dụng bằng hình thức hít hết số ma túy đã mua. Sau đó C cùng N vào tỉnh Bình Thuận làm ăn. C khẳng định không biết việc N tàng trữ trái phép chất ma túy ngày 04/5/2022. Trước khi đến Cơ quan điều tra làm việc ngày 27/7/2023, C đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại khu phố F, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Do đó Cơ quan cảnh sát điều tra không xử lý đối với C về hành vi đồng phạm với N là có căn cứ.
- Đối với Đỗ Ngọc T có mặt khi tổ công tác kiểm tra nhưng T khẳng định không biết N tàng trữ trái phép chất ma túy, nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y không có căn cứ để xử lý đối với T về hành vi đồng phạm với N. Ngoài ra T khai: Sau khi được C trả tiền công lao động hàng ngày thì T đã sử dụng 100.000đồng để mua ma túy của người đàn ông không quen biết tại khu vực đầu cầu B thuộc xã N, huyện L. Sau đó đem về chùa H1 thuộc thôn C, xã H sử dụng hết.
- Đối với những người đàn ông đã bán ma túy cho N, C, T. Do N, C, T không biết tên, tuổi và địa chỉ nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.
- Đối với hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của N và C tại khu phố F, phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận. Ngày 15/10/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y có Công văn số 1083 về việc trao đổi thông tin với Công an phường H, thành phố P, tỉnh Bình Thuận để giải quyết theo thẩm quyền. Về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” của bị can Lê Văn N, Đỗ Ngọc T tại thôn C, xã H và Vũ Văn C ngày 03/5/2022, tại tổ dân phố H, thị trấn B, huyện Y. Ngày 15/10/2023, Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính bằng hình thức phạt tiền đối với C, N, T là đúng pháp luật.
5. Về vật chứng:
- Đối với 01 xe mô tô kiểu dáng Dream màu nâu, biển kiểm soát 98H8-5331 thu giữ tại Chùa H1; Lê Văn N, Vũ Văn C, Đỗ Ngọc T khai không biết là xe của ai. Quá trình điều tra xác định đăng ký xe mang tên anh Trương Văn T1, sinh năm 1976, trú tại B, xã B, huyện L. Quá trình làm việc anh T1 trình bày đã bán chiếc xe trên cho người đàn ông không quen biết, chiếc xe không phải do bị mất trộm. Kết quả tra cứu chiếc xe không có trong cơ sở dữ liệu xe máy vật chứng. Do chưa xác định được chủ sở hữu, nên ngày 16/10/2023, Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã ra Quyết định tách vật chứng chiếc xe trên ra khỏi vụ án để tiếp tục xác minh làm rõ xử lý sau.
- Số tiền 50.000đồng tiền Ngân hàng N1 là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nhưng bị cáo không nhận lại. Cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “D1” có chữ kí cùng tên của thành phần tham gia bên trong đựng 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng một đầu được hàn kín, một đầu để hở được gói trong một túi nilon màu trắng; 01 phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “D2” có chữ kí cùng tên của thành phần tham gia bên trong đựng 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và đường viền màu đỏ đựng 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu trắng chứa mẫu mảnh viên nén màu hồng là ma túy, có khối lượng 0,072 gam, loại Methamphetamine. Các vật chứng này khi bắt giữ được niêm phong trong các phong bì ký hiệu “A1” và “A2”. Trong quá trình điều tra đã mở niêm phong cho C và bị cáo xác định vật chứng xong niêm phong lại ký hiệu là “D1” và “D2”. Đây là các vật dụng đựng ma túy và số ma túy còn lại sau giám định của bị cáo, là vật chứng nhà nước cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 thùng catton được dán kín và được niêm phong bằng cách dán giấy niêm phong có chữ kí, cùng tên của các thành phần tham gia có kí hiệu “D3” bên trong đựng 01 (một) ba lô bằng vải màu nâu bên trong có 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màn hình có vết nứt vỡ vỏ màu vàng mặt sau có chữ Sam Sung; 01(một) chiếc điện thoại kiểu dáng Nokia 1280 vỏ ngoài màu đen; dụng cụ cắt, mài, khoan, cờ lê, mỏ lết, đinh, ốc, vít, mũi khoan, thước; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong có chứa 01 (một) máy EVD vỏ màu đen và một số quần áo; 03 (ba) điện thoại di động có bàn phím bấm, các điện thoại nêu trên có chữ M (gồm 01 điện thoại có phím bấm màu xanh đen; 01 điện thoại màu đen có viền đỏ; 01 điện thoại màu đen). Đây là các tài sản của bị cáo và các đối tượng C, T. Các vật chứng này khi bắt giữ được niêm phong trong thùng catton ký hiệu A3. Trong quá trình điều tra đã mở niêm phong cho C và bị cáo xác định vật chứng xong niêm phong lại ký hiệu là “D3”. Bị cáo và các đối tượng C, T không nhận lại tài sản, xét thấy các tài sản này đã cũ, qua thời gian dài không sử dụng nên giá trị còn lại nhỏ, cần tịch thu tiêu hủy.
6. Án phí: Bị cáo thuộc diện hộ nghèo, căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
7. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về điều luật áp dụng: Căn cứ vào điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lê Văn N 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 28/7/2023. Không phạt bổ sung bằng tiền đối với bị cáo Lê Văn N.
3. Về vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
+ Tịch thu tiêu hủy gồm:
- 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “D1” có chữ kí cùng tên của thành phần tham gia bên trong đựng 01 (một) đoạn ống nhựa màu trắng một đầu được hàn kín, một đầu để hở được gói trong một túi nilon màu trắng.
- 01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy có ký hiệu “D2” có chữ kí cùng tên của thành phần tham gia bên trong đựng 01 (một) túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và đường viền màu đỏ đựng 04 (bốn) đoạn ống nhựa màu trắng chứa mẫu mảnh viên nén màu hồng là ma túy, có khối lượng 0,072 gam, loại Methamphetamine.
- 01 (một) thùng catton được dán kín và được niêm phong bằng cách dán giấy niêm phong có chữ kí, cùng tên của các thành phần tham gia có kí hiệu “D3” bên trong đựng 01 (một) ba lô bằng vải màu nâu bên trong có 01 (một) điện thoại di động cảm ứng màn hình có vết nứt vỡ vỏ màu vàng mặt sau có chữ Sam Sung; 01(một) chiếc điện thoại kiểu dáng Nokia 1280 vỏ ngoài màu đen; dụng cụ cắt, mài, khoan, cờ lê, mỏ lết, đinh, ốc, vít, mũi khoan, thước; 01 (một) túi nilon màu đen bên trong có chứa 01 (một) máy EVD vỏ màu đen và một số quần áo; 03 (ba) điện thoại di động có bàn phím bấm, các điện thoại nêu trên có chữ M (gồm 01 điện thoại có phím bấm màu xanh đen; 01 điện thoại màu đen có viền đỏ; 01 điện thoại màu đen).
+ Tịch thu sung ngân sách nhà nước 50.000đồng (năm mươi nghìn đồng) tiền Ngân hàng N1.
4. Về án phí: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lê Văn N.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận: -TAND tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Yên Thế; - CA huyện Yên Thế; - CCTHADS huyện Yên Thế; - Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang; - Bị cáo, đương sự; - Lưu hồ sơ. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thế Đăng |
Bản án số 66/2023/HSST ngày 29/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 66/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THẾ, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Văn N tàng trữ trái phép chất ma túy
