Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS - ST

Ngày: 29 - 7 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Minh Toản;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đào Thị Thanh Thủy và bà Phạm Thị Bích Nguyệt.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Thực - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Ông Vũ Đại Dương - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2024, tại tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 64/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Văn B

- Sinh ngày 30/8/1978, tại huyện P, tỉnh Thái Nguyên; nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm L, xã N, huyện P tỉnh Thái Nguyên. Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; giới tính: Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Con ông Nguyễn Văn B1 (Đã chết) và bà Tạ Thị T - Sinh năm: 1949. Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba trong gia đình; có vợ là Nguyễn Thị H - Sinh năm 1981 và có 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh 2006.

Tiền án, tiền sự: Không có.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/01/2024 cho đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Đặng Văn C - Sinh năm 1968;

Nơi cư trú: Xóm K, xã N, huyện P, tỉnh Thái Nguyên.

(Có mặt tại phiên tòa).

- Người chứng kiến:

  1. Chị Nguyễn Thị T1 - Sinh năm 1985;
  2. Nơi cư trú: TDP H, phường T, thành phố P, tỉnh Thái Nguyên.

  3. Anh Trần Thanh T2 - Sinh năm 1991;
  4. Nơi cư trú: TDP C, phường T, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên.

(Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 14 giờ 00 phút ngày 15/01/2024, Tổ công tác thuộc Đội Điều tra tổng hợp Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên làm nhiệm vụ đảm bảo an ninh trật tự tại đoạn đường Cách mạng tháng Tám thuộc Tổ dân phố (TDP) T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên phát hiện có 01 nam thanh niên (sau xác định là Nguyễn Văn B) đang điều khiển xe mô tô nhãn hiệu HONDA, màu sơn đỏ, đen, Biển kiểm soát (BKS) 20G1- 157.00 có biểu hiện nghi vấn Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, khi bị kiểm tra thì B thả từ tay trái 02 gói nilon màu trắng xuống đất tại vị trí đang đứng, tổ công tác kiểm tra thì phát hiện bên trong túi nilon có chứa chất bột màu trắng (nghi là chất ma túy). Tại đây Nguyễn Văn B khai nhận là ma túy, heroine B được một người bạn cho để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 02 gói nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng và niêm phong vào bì ký hiệu A, thu giữ trên người số tiền 20.000 đồng, niêm phong vào bì ký hiệu B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 màu xanh, đã qua sử dụng, niêm phong vào bì ký hiệu C và 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX, BKS 20G1-157.00.

Ngày 15/01/2024, tại Phòng K Công an tỉnh T, Cơ quan CSĐT Công an thành phố S tiến hành mở niêm phong, cân vật chứng thu giữ của Nguyễn Văn B, xác định: Chất bột màu trắng thu giữ của B có khối lượng là 0,277 gam (không phẩy hai trăm bẩy mươi bẩy gam) Bút lục: 24 - 25.

Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã trưng cầu giám định số chất bột màu trắng thu giữ của Nguyễn Văn B. Tại bản kết luận giám định số 245/KL - KTHS ngày 24/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh T, kết luận: Chất bột màu trắng trong phong bì niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy, loại heroine, có tên khoa học là D được quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất: Khối lượng ban đầu là 0,277 gam.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn B khai nhận như sau: Bản thân B là người nghiện ma túy từ năm 2008 cho đến nay. Khoảng 13 giờ 30 phút, ngày 15/01/2024, B đang ở nhà thì nhận được cuộc gọi điện thoại đến từ số máy 0928.577.xxx, của một người bạn nghiện tên là B (Nguyễn Văn B không rõ lai lịch cụ thể ở đâu, chỉ quen khoảng 02 – 03 tháng nay và đã cùng nhau sử dụng ma túy với nhau) nói với B là: “anh ra ngã tư V đón em, để em mua hàng hai anh em sử dụng”, thấy người đó nói vậy, B hiểu bạn nghiện này rủ mình đi mua ma túy sử dụng nên Nguyễn Văn B đồng ý rồi mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen, BKS 20G1-157.00 của anh Đặng Văn C (Là anh rể B) đi đến ngã tư V thì gặp người tên B đứng đợi ở lề đường, theo sự chỉ dẫn của B thì Nguyễn Văn B chở B đến khu vực đường Cách mạng tháng T, thuộc TDP T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì B bảo dừng xe lại, khi Nguyễn Văn B dừng xe thì B xuống xe và lấy từ trong túi quần bên trái B đang mặc ra 02 gói nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng đưa cho Nguyễn Văn B và nói “Anh cầm lấy để em vào đây mua thêm cái này”. Nguyễn Văn B biết 02 gói nilon trên chứa chất ma túy, loại heroine nên cầm trong lòng bàn tay trái và ngồi trên xe đợi, còn người đàn ông tên B đi vào trong ngõ. Khi Nguyễn Văn B đang ngồi đợi thì bị Tổ công tác của Công an thành phố S đến yêu cầu kiểm tra, phát hiện và bắt quả tang thu giữ vật chứng nêu trên.

Vật chứng của vụ án gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA, BKS 20G1 - 157.00; số tiền 20.000 đồng; 01 bì niêm phong ký hiệu KT chứa 01 xilanh nhựa loại 3ml đã qua sử dụng; 01 bì niêm phong ký hiệu C1 chứa 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A71; 01 bì niêm phong ký hiệu NL chứa 05 vỏ túi nilon màu trắng, KT (1x1)cm, bên trong bám dính chất bột màu trắng; 01 bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A và 02 túi nilon màu trắng; 01 bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,265 gam mẫu A1 (chất ma túy, loại Heroine) và vỏ bao gói mẫu A1 được chuyển bảo quản theo quy định về quản lý vật chứng.

Tại bản Cáo trạng số 60/CT - VKS ngày 24/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1 điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm:

Bị cáo Nguyễn Văn B đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã khai tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa, giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn B về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng điểm c khoản 1 điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS, xử phạt bị cáo B từ 15 - 18tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo;

- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của BLTTHS, đề nghị tịch thu tiêu hủy tịch thu tiêu hủy: 03 bì niêm phong ký hiệu KT, NL, A1, A2 bên trong có chứa xi lanh nhựa, túi ni lon, ma túy hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu; Trả lại cho ông Đặng Văn C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS 20G1-157.00, tạm giữ số tiền 20.000 đồng và chiếc điện thoại di đông nhãn hiệu Oppo A71 để đảm bảo việc Thi hành án cho bị cáo.

- Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm nộp vào ngân sách nhà nước theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình và thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Đặng Văn C có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử trả lại cho ông chiếc xe mô tô BKS 20G1-157.00.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Văn B có ý kiến đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt tù cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, tỉnh Thái Nguyên; Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]Về hành vi phạm tội của bị cáo: Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ chấp nhận, vì đã phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng và các tài liệu chứng cứ khác do Cơ quan điều tra thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Do đó đã có đủ căn cứ kết luận:

Bị cáo Nguyễn Văn B là đối tượng nghiện chất ma túy từ năm 2008 cho đến nay chưa từ bỏ được ma túy. Khoảng 13 giờ 30 ngày 15/01/2024, sau khi được một nam thanh niên tên là B (Không rõ tên, tuổi, địa chỉ) gọi điện đến đón đi cùng sử dụng ma túy. Bị cáo đã dùng xe mô tô đến đón và chở B đi đến khu vực đường Cách mạng tháng T, thuộc TDP T, phường P, thành phố S, tỉnh Thái Nguyên thì dừng lại, người thanh niên tên B đã lấy 02 gói nilon màu trắng chứa chất bột màu trắng đưa cho bị cáo B cầm, còn người thanh niên kia nói đi vào trong ngõ mua thêm cái này, khi bị cáo B đang ngồi đợi thì bị tổ công tác Công an thành phố Sông Công phát hiện bắt quả tang thu giữ vật chứng là 02 gói nilon chứa chất bột màu trắng nêu trên, qua giám định là Heroine, có khối lượng là: 0,277 gam.

Xét hành vi cất giữ ma túy loại Heroine của bị cáo với mục đích để sử dụng cho bản thân đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của BLHS. Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sông Công truy tố bị cáo về tội danh, điều luật viện dẫn trên là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Nội dung Điều 249 của BLHS quy định:

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
  2. c) Heroine ... có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mức độ của tội phạm là nghiêm trọng, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, hành vi phạm tội của bị cáo còn gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, trị an tại địa phương. Hành vi phạm tội của bị cáo cần phải xử lý nghiêm minh bằng pháp luật hình sự mới có tác dụng cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.

- Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, nên bị cáo hưởng một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS.

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại khoản 1 Điều 52 của BLHS. Xét nhân thân, thấy bị cáo là đối tượng nghiện chất ma túy đã nhiều năm, vì vậy, dù có giảm nhẹ phần nào về hình phạt, cũng cần nên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo và cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian phù hợp để cho bị cáo có điều kiện cai nghiện ma túy cũng như cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội.

[4] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của BLHS thì người phạm tội còn có thể phải chịu hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của bị cáo tại phiên tòa thấy bị cáo là người nghiện chất ma tuý, phạm tội không nhằm mục đích thu lời bất chính. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo

[5]Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của BLHS và Điều 106 BLTTHS, xử lý vật chứng vụ án như sau:

- Đối với những vật chứng là các bì niêm phong ký hiệu KT, NL, A1, A2 bên trong có chứa xi lanh nhựa, vỏ túi nilon, ma túy loại Heroine còn lại sau giám định và vỏ bao gói mẫu, xét thấy đây là vật chứng cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS 20G1-157.00, đây là chiếc xe thuộc quyền sở hữu của ông Đặng Văn C. Việc bị cáo mượn của ông C chiếc xe mô tô trên đi sử dụng ma tuý ông C không biết. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ông C yêu cầu được trả lại chiếc xe mô tô để gia đình quản lý, sử dụng. Xét yêu cầu của ông C là có căn cứ phù hợp quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 của BLTTHS cần chấp nhận, trả lại cho ông C chiếc xe mô tô nói trên.

- Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 và số tiền 20.000 đồng thuộc quyền sở hữu của bị cáo, cần tạm giữ để đảm báo việc THA cho bị cáo.

[6]Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát trong lời luận tội đối với bị cáo, như đề nghị về tội danh, điều luật áp dụng, mức hình phạt chính, xử lý vật chứng vụ án là phù hợp với quy định của pháp luật cần chấp nhận.

[7] Cần áp dụng Điều 329 của BLTTHS ra quyết định tạm giam bị cáo với thời hạn 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định.

[8] Về người đưa ma túy cho bị cáo B có số điện thoại 0928.577.xxx, Cơ quan điều tra Công an thành phố S đã xác minh làm rõ chủ sở hữu số thuê bao trên là La Văn S (Sinh năm 1987, trú quán thôn A, xã Đ, huyện L, tỉnh Bắc Giang), kết quả điều tra xác định anh S không liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy, ngoài ra B không biết tên, tuổi, địa chỉ của người đưa ma túy cho mình nên cơ quan điều tra không có cơ sở để xem xét, xử lý.

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu một khoản án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Điều 47, điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của BLHS đối với Nguyễn Văn B;
  • Các Điều 106, 136, 329, 331 và 333 của BLTTHS;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/01/2024.
  3. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định khoản 5 Điều 249 của BLHS.
  4. Ra Quyết định tạm giam bị cáo Nguyễn Văn B với thời hạn 45 (Bốn mươi lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  5. Về xử lý vật chứng:
  6. - Tịch thu tiêu hủy các vật chứng sau đây: 01 bì niêm phong ký hiệu KT chứa 01 xi lanh nhựa loại 3ml đã qua sử dụng; 01 bì niêm phong ký hiệu NL chứa 05 vỏ túi nilon màu trắng, KT (1x1)cm bên trong bám dính chất bột màu trắng, 01 bì niêm phong ký hiệu A2 chứa vỏ bì niêm phong ký hiệu A và 02 túi nilon màu trắng và 01 bì niêm phong ký hiệu A1 chứa 0,265 gam mẫu A1 (Chất ma túy loại Heroine) và vỏ báo gói mẫu A1;

    - Trả lại cho ông Đặng Văn C 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave S, BKS 20G1-157.00.

    - Tạm giữ chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A71 và số tiền 20.000 đồng thuộc quyền sở hữu của bị cáo Nguyễn Văn B.

    (Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/7/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra của Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên và Giấy nộp tiền số 10518461 ngày 03/7/2024 tại Ngân hàng TMCP V - Chi nhánh N ngày 08/5/2024 vào tài khoản số 39490.1007371.00000 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sông Công).

  7. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn B phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí HSST nộp vào ngân sách Nhà nước.
  8. Thông báo quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn B có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án.
  9. - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án (Ông Đặng Văn C) có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh Thái nguyên;
  • - VKSND TP. Sông Công;
  • - THADS TP. Sông Công;
  • - Công an TP. Sông Công;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Minh Toản

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS - ST ngày 29/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 66/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SÔNG CÔNG, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn B phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. 2. Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn B 18 (Mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ bị bắt tạm giữ, tạm giam 15/01/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger