Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THỌ XUÂN

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 66/2023/HSST

Ngày 28/ 11 / 2023

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HOÁ

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Cao Hồng Đức

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Đăng Thiện

2. Ông Nguyễn Văn Sâm

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Cao Thị Bình - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thọ Xuân.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên toà: Ông Phạm Xuân Long - Kiểm sát viên

Ngày 28 tháng 11 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân; Xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 70 /2021/HSST ngày 31 tháng 10 năm 2023; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/QĐXXST- HS ngày 15 tháng 11 năm 2023.

Đối với bị cáo: Lê Thị L; Giới tính: Nữ; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày 02 tháng 6 năm 1973 tại xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa. Quê quán: xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi đăng ký HKTT: thôn C, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Chỗ ở hiện tại: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12; Bố: Lê Viết K - đã chết; Mẹ: Lê Thị L1 - đã chết; Gia đình có 05 anh chị em; bị cáo là con thứ năm; Chồng: Nguyễn Đình Đ; Sinh năm: 1964; Có 03 con: lớn nhất 23 tuổi, nhỏ nhất 16 tuổi.

Nhân thân: Ngày 24 tháng 6 năm 2004, Lê Thị L bị Tòa án nhân dân huyện Thọ Xuân xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 tính từ ngày tuyên án về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 257 Bộ luật Hình sự năm 1999. Ngày 17 tháng 12 năm 2004, L đã nộp xong án phí. Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 13/8/2023 đến nay, hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Y. Có mặt

- Người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1990; vắng mặt

2. Anh Lê Hữu C, sinh năm 1991; vắng mặt

Đều trú tại: thôn T, xã X, huyện T, tỉnh Thanh Hóa

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Chị Lang Thị Ú, sinh năm 1980; vắng mặt

Địa chỉ: thôn Yên Mỹ, xã Luận Khê, huyện Thường Xuân, tỉnh Thanh Hóa

2. Chị Hà Thị N, sinh năm 1995; vắng mặt

Địa chỉ: bản C, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Hồi 20 giờ 45 phút ngày 12/8/2023 Công an huyện T, kiểm tra nhà nghỉ M, ở thôn C, xã T, huyện T do Lê Thị L làm chủ, lập biên bản vi phạm hành chính đối với hai đôi nam nữ đang mua bán dâm, thu giữ 02 bao cao su đã qua sử dụng và 02 vỏ bao cao su màu cam nhãn hiệu “Avita” đã được xé để lấy ruột.

Quá trình điều tra các đối tượng đã khai nhận: Năm 2019, Lê Thị L làm hợp đồng thuê lại nhà nghỉ Minh Q của ông Lê Viết D tại thôn C, xã T, huyện T để kinh doanh. L là người trực tiếp quản lý và sinh sống tại nhà nghỉ. Khoảng đầu tháng 8 năm 2023, Lang Thị Ú (sinh năm 1980; trú tại thôn Y, xã L, huyện T) và Hà Thị N (sinh năm 1995; trú tại bản C, xã T, huyện M) đến nhà nghỉ gặp L và đặt vấn đề để hoạt động mại dâm tại nhà nghỉ M và được L đồng ý. ÚN sẽ được L bao nuôi ăn ở tại nhà nghỉ và phục vụ khách mua dâm theo sự điều hành của L. Lượng sẽ là người trực tiếp giao dịch và thu tiền của khách đến mua dâm, số tiền mỗi lượt mua dâm mà khách phải bỏ ra sẽ dao động từ 300.000 đồng đến 500.000 đồng. Tỷ lệ ăn chia sẽ là 1: 1 (nghĩa là L được hưởng 50% số tiền đã thu, số tiền còn lại Ú, N được hưởng).

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 11 tháng 8 năm 2023, Nguyễn Văn T (sinh năm 1990, trú tại thôn T, xã X, huyện T) cùng Lê Hữu C (sinh năm 1991, trú cùng thôn) đến nhà nghỉ M ở thôn C, xã T, huyện T để gặp L đặt vấn đề mua dâm. Sau khi thỏa thuận giá cả cho 02 người mua dâm, T đưa 400.000 đồng tiền mặt cho L và chuyển tiền vào tài khoản cho L số tiền 600.000 đồng - tổng là 1.000.000 đồng. Sau đó C lên phòng 202 thực hiện việc mua bán dâm với Lang Thị Ú, còn T lên phòng 204 mua bán dâm với Hà Thị N.

Ngày 12 tháng 8 năm 2023, Nguyễn Văn T cùng Lê Hữu C lại tiếp tục đến nhà nghỉ M ở thôn C, xã T, huyện T để mua dâm. Đến nơi TC gặp Lê Thị L là quản lý nhà nghỉ đang đứng tại quầy lễ tân thì T nói với L: “Chị gọi cho em hai đứa” thì L bảo: “Để chị xem thế nào đã”. T đưa cho L 1.000.000 đồng (một triệu đồng) để trả tiền cho việc mua dâm thì L nói: “Các em cứ lên phòng đi”. Theo lời, T trên tầng 2 vào phòng 202 còn C vào phòng 204 đợi. L gọi và nói với Lang Thị ÚHà Thị N “Lên phòng đi, có khách đang đợi ở trên”. Nghe L nói, cả hai lên tầng 2, Ú vào phòng 202 gặp T còn N vào phòng 204 gặp C để thực hiện việc mua bán dâm. Đến 20 giờ 45 phút cùng ngày, khi CT đang quan hệ tình dục với gái bán dâm thì bị lực lượng Công an huyện T kiểm tra phát hiện và lập biên bản vụ việc. Thu giữ tại phòng nghỉ 202 và 204 mỗi phòng nghỉ có 01 bao cao su đã qua sử dụng và 01 vỏ bao cao su màu cam nhãn hiệu “Avita” đã được xé để lấy ruột.

Cơ quan điều tra đã khám xét khẩn cấp người, chỗ ở Lê Thị L thu giữ tại phòng nghỉ 202 của nhà nghỉ Q1 10 bao cao su vỏ màu cam nhãn hiệu “Avita” chưa qua sử dụng; thu giữ tại phòng nghỉ 204 của nhà nghỉ Q1 02 bao cao su vỏ màu cam nhãn hiệu “Avita” chưa qua sử dụng. Tại quầy lễ tân 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+ đã qua sử dụng bên trong lắp sim số thuê bao 0964094240. Thu giữ trên người Lượng số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng).

Tại Bản kết luận giám định số 3035 ngày 24/8/2023 của Phòng K1, Công an tỉnh T kết luật: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giá 500.000 đồng gửi đi giám định là tiền thật.

Vật chứng của vụ án: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su màu cam nhãn hiệu “Avita”;12 bao cao su vỏ màu cam nhãn hiệu “Avita” chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+ đã qua sử dụng có số Imeil: 352808090148347, Imei2: 352808090148345 bên trong lắp sim số thuê bao 0964094240; Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng. Các vật chứng có liên quan đến vụ án, nên tiếp tục thu giữ, quản lý theo quy định của pháp luật.

Tại bản cáo trạng số: 77/VKS-HS ngày 30/10/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân đã truy tố bị cáo Lê Thị L về tội “Chứa mại dâm” theo điểm c khoản 2 Điều 327 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lê Thị L phạm tội “Chứa mại dâm”; Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Lê Thị L từ 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng đến 5 (năm) năm 9(chín) tháng tù.

Về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su màu cam nhãn hiệu “Avita”;12 bao cao su vỏ màu cam nhãn hiệu "Avita” chưa qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+ đã qua sử dụng có số Imeil: 352808090148347, Imei2: 352808090148345 bên trong lắp sim số thuê bao 0964094240. Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền: 1.000.000 đồng. Truy thu của bị cáo số tiền 700.000 đồng ( Đây là tiền bị cáo thu của người mua dâm 1000.000 đồng ngày 11/8/2023 và đã trả cho người bán dâm, mỗi người 150.000 đồng). Truy thu của Lang Thị ÚHà Thị N mỗi người 150.000 đồng tiền bán dâm mà có.

Bị cáo Lê Thị L thừa nhận hành vi của bị cáo như nội dung Cáo trạng nêu là đúng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát; Lời nói sau cùng bị cáo L nhận tội và xin được hưởng khoan hồng của pháp luật, được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự; Không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “ Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thọ Xuân truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2] Tính chất vụ án là nghiêm trọng; Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự trị an, an toàn công cộng; Hành vi mại dâm xảy ra không những tác động tiêu cực đến nếp sống văn minh, ảnh hưởng đến nhân cách con người, mà còn gây nên những thiệt hại về vật chất, tinh thần cho nhiều gia đình, cá nhân và là nguyên nhân làm phát sinh nhiều loại tội phạm và tệ nạn xã hội khác, làm lây truyền nhiều bệnh xã hội nguy hiểm. Vì vậy, cần phải xử lý vụ án nghiêm, tương xứng với hành vi của bị cáo mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa tội phạm chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Hội đồng xét xử thấy rằng, bị cáo L, không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS; bị cáo có bố đẻ là ông Lê Viết K được tặng Huy Chương kháng chiến; có chồng là ông Nguyễn Đình Đ là thương binh nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 BLHS đối với bị cáo.

Từ những phân tích, đánh giá nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân xấu, nên giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo L thể hiện tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội thành khẩn khai báo ăn năn hối cải.

[4] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[5] Các tình tiết liên quan đến vụ án: Các đối tượng mua bán dâm là Nguyễn Văn TLê Hữu C. Người bán dâm là Lang Thị ÚHà Thị N đều đã bị Cơ quan Công an xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền là phù hợp. Ngày 11/8/2023 Nguyễn Thị L2 đã thu số tiền 1000.000 đồng của Nguyễn Văn TLê Hữu C để hai người mua dâm đối với Lang Thị ÚHà Thị N, L2 đã trả cho người bán dâm, mỗi người 150.000 đồng, còn lại 700.000 đồng thu lợi bất chính nên cần phải truy thu số tiền 700.000 đồng từ Nguyễn Thị L2 và truy thu số tiền Lang Thị ÚHà Thị N do bán dâm mà có là 150.000 đồng mỗi người.

[6] Vật chứng vụ án:

Gồm: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su màu cam nhãn hiệu “Avita”;12 bao cao su vỏ màu cam nhãn hiệu “Avita” chưa qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+ đã qua sử dụng có số Imeil: 352808090148347, Imei2: 352808090148345 bên trong lắp sim số thuê bao 0964094240; Tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng. Các vật chứng có liên quan đến vụ án, nên tiếp tục thu giữ, quản lý theo quy định của pháp luật.

[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố: Bị cáo Lê Thị L, phạm tội “ Chứa mại dâm”.

- Áp dụng: điểm c khoản 2 Điều 327; Điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 331; Điều 333 Bộ Luật tố tụng hình sự.

- Xử phạt: Bị cáo Lê Thị L 5 (năm) năm 6 (sáu) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 13/8/2023.

- Về vật chứng vụ án: Áp dụng: điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b, c khoản 2; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy: 02 bao cao su đã qua sử dụng; 02 vỏ bao cao su màu cam nhãn hiệu “Avita”;12 bao cao su vỏ màu cam nhãn hiệu “Avita” chưa qua sử dụng. Trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7+ đã qua sử dụng có số Imeil: 352808090148347, Imei2: 352808090148345 bên trong lắp sim số thuê bao 0964094240; Tịch thu số tiền 1.000.000đ sung vào công quỹ Nhà nước. Toàn bộ số vật chứng trên hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thọ Xuân,theo Biên bản giao nhận vật chứng số 11 ngày 02/11/2023.

Truy thu của bị cáo Lê Thị L số tiền 700.000 đồng; truy thu của Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là Lang Thị ÚHà Thị N, mỗi người 150.000 đồng sung váo ngân sách nhà nước.

- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo Lê Thị L phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

- TAND tỉnh Thanh Hóa;

- VKSND huyện Thọ Xuân;

- Viện kiểm sát ND tỉnh Thanh Hóa

- Công an huyện Thọ Xuân;

- Chi cục THADS huyện Thọ Xuân

- Bị cáo;

- Lưu hồ sơ.

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Cao Hồng Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2023/HSST ngày 28/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HOÁ về chứa mại dâm (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 66/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỌ XUÂN, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: sdgsdg
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger