|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 66/2024/DS-PT Ngày 28 tháng 8 năm 2024 V/v “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Xuân Trường;
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Khắc Chiên
Bà Lê Thị Thu Huyền
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Xuân – Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Bà Vũ Thị Hương - Kiểm sát viên;
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 69/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản;
Do bản án dân sự sơ thẩm số: 14/2024/DS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 76/2024/QĐPT-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Bà Vũ Thị P, sinh năm 1971.
Địa chỉ: Khu T, thị trấn L, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Bị đơn: Chị Ngô Thị Thúy H, sinh năm 1989
Anh Nguyễn Quang T, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Khu A, thị trấn H, huyện L, tỉnh Phú Thọ.
Người kháng cáo: Chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện, Bản tự khai và tại phiên tòa bà Vũ Thị P trình bày: Do có mối quan hệ quen biết, ngày 09/5/2022, bà có cho chị Ngô Thị Thúy H cùng chồng là anh Nguyễn Quang T vay số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng). Khi vay hai bên có viết Giấy biên nhận vay tiền, chị H và anh T cùng ký vào giấy, hai bên thỏa thuận lãi miệng với nhau là 2000 đồng/ngày/triệu. Chị H nói vay tiền để đáo hạn ngân hàng, thời hạn vay là 01 tháng kể từ ngày 09/5/2022. Đến thời điểm hiện nay chị H, anh T chưa trả được cho bà bất cứ khoản nào (kể cả gốc và lãi).
Quá trình giải quyết vụ án và tại buổi đối chất ngày 07/5/2024 chị H có trình bày là từ năm 2021 đến tháng 9 năm 2022 đã trả được cho bà tổng số tiền 330.400.000 đồng (qua hình thức chuyển khoản ngân hàng) và 10.000.000 đồng tiền mặt để thanh toán cho khoản vay ngày 09/4/2021 (sau này là giấy biên nhận vay tiền ngày 9/5/2022) là không đúng vì toàn bộ khoản tiền này chị H trả cho các khoản vay trước (trước ngày 9/5/2022 chị H cũng đã nhiều lần vay tiền của bà nhưng đã trả hết). Đến thời điểm hiện nay, ngoài khoản vay ngày 09/5/2022 vợ chồng chị H anh T không còn khoản vay nào khác.
Nay bà khởi kiện yêu cầu chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T phải trả cho bà số tiền nợ gốc 500.000.000 theo Giấy biên nhận vay tiền ngày 9/5/2022 và tiền lãi với lãi suất 1,5%/tháng từ ngày 9/5/2022 đến khi trả nợ xong.
* Tại Bản tự khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T đều trình bày: Ngày 09/4/2021, vợ chồng anh chị có vay của bà Vũ Thị P số tiền 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng), lãi suất 2000 đồng/triệu/ngày, trả lãi hàng tháng. Từ ngày 09/4/2021 đến tháng 8/2022, chị H đã chuyển khoản trả cho bà P số tiền lãi 250.400.000 đồng và 80.000.000 đồng tiền gốc qua 18 giao dịch chuyển khoản ngân hàng (hiện nay chị H cung cấp cho Tòa án 16 chứng từ chuyển khoản, còn thiếu chứng từ ngày 25/3/2022 và 01/8/2022). Ngoài ra vợ chồng chị còn trả cho bà P tiền mặt là 10.000.000 đồng.
Do tháng 7/2022 chị không trả lãi đủ cho bà P nên bà P lên nhà anh chị để chốt lại số tiền nợ. Hôm đó bà P có nói là cứ chốt số tiền nợ đến ngày 9/5/2022 vợ chồng anh chị còn nợ bà P số tiền 513.000.000 đồng (cả gốc và lãi). Sau đó bà P bảo chị viết giấy Biên nhận vay tiền với số tiền 500.000.000 đồng (bà P nói viết 500.000.000 đồng cho chẵn, còn 13.000.000 đồng trả ngoài). Chị H đã viết giấy biên nhận vay tiền và ghi số tiền vay trong Giấy biên nhận vay tiền là 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) và đề ngày 9/5/2022 (lấy ngày 9/5/2022 là để tròn một năm kể từ ngày viết giấy vay tiền ngày 09/4/2021), mục đích vay bà P nói ghi là để đáo nợ ngân hàng. Trong giấy biên nhận vay tiền chỉ ghi thời hạn vay là 01 tháng nhưng nói miệng với nhau là trả trước tháng 8/2022 (âm lịch) để bà P cưới con. Sau khi chị H viết xong Giấy biên nhận vay tiền thì hai vợ chồng anh chị cùng ký vào Giấy biên nhận vay tiền và bà P xé tờ giấy vay tiền ngày 9/4/2021 tại nhà anh chị. Do đó, khoản vay 500.000.000 đồng thể hiện tại Giấy biên nhận vay tiền đề ngày 09/5/2022 thực chất chỉ là viết lại khoản tiền gốc còn nợ và khoản tiền lãi còn nợ của khoản vay ngày 09/4/2021. Ngày 09/5/2022, hai bên không có giao dịch vay tiền và cho vay tiền với nhau, Giấy biên nhận vay tiền này không phải được viết vào ngày 09/5/2022 mà được viết vào khoảng tháng 7/2022. Từ 09/4/2021 cho đến nay, hai bên không phát sinh giao dịch vay tiền nào khác.
Đối với số tiền lãi 13.000.000 đồng trả ngoài thì trong tháng 8/2022 anh chị chị đã trả cho bà P thông qua 02 lần chuyển khoản trong đó số tiền 10.000.000 đồng ghi rõ là chuyển trả nợ gốc.
Hiện nay, bà P khởi kiện yêu cầu vợ chồng anh chị phải trả cho bà P số tiền gốc 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng) thể hiện tại Giấy biên nhận vay tiền đề ngày 09/5/2022, quan điểm của anh chị như sau: Anh chị khẳng định anh chị chỉ vay của bà P số tiền 500.000.000 đồng vào ngày 9/4/2021 với lãi suất 2000đồng/ngày/ triệu. Khoản vay này chị đã trả được cho bà P theo 18 chứng từ sao kê chuyển khoản và 10.000.000 đồng tiền mặt. Từ cuối tháng 9/2022, anh chị không trả thêm cho bà P thêm khoản tiền nào nữa. Do đó nay anh chị không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà P và đề nghị xác định tổng số tiền 330.400.000 đồng mà anh chị đã trả cho bà P đâu là gốc, đâu là lãi theo quy định của pháp luật.
* Tại bản án sơ thẩm dân sự số: 14/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao đã quyết định;
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 463; Điều 466; khoản 1 Điều 468; khoản 2 Điều 470; Điều 357 Bộ luật dân sự năm 2015. Khoản 1 điều 26, khoản 1 điều 35; khoản 1 Điều 39 Khoản 4 điều 147; Điều 271; Khoản 1 điều 272 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị P.
Buộc chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị P các khoản tiền còn nợ của Giấy Biên nhận vay tiền đề ngày 9/5/2022 gồm:
- - Nợ gốc: 490.000.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu đồng).
- - Nợ lãi: 170.060.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Cả gốc và lãi: 660.060.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Bản án còn quyết định về án phí, quyền kháng cáo, quyền yêu cầu, thỏa thuận thi hành án.
Ngày 18/6/2024 Bị đơn chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ. Cụ thể:
- - Khẳng định Giấy biên nhận vay tiền chỉ để chốt nợ cho khoản vay ngày 09/4/2021.
- - Khẳng định toàn bộ số tiền 330.400.000 đồng đã chuyển trả cho bà P là khoản nợ vay ngày 09/4/2021.
- - Bản án sơ thẩm tính lãi suất 1,5%/tháng là quá cao so với lãi suất ngân hàng.
Tại phiên tòa phúc thẩm bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử bảo vệ quyền lợi cho anh chị như nội dung kháng cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của những người tiến hành tố tụng; Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Không chấp nhận kháng cáo của chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T.
Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Về án phí: chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Về đơn kháng cáo trong hạn luật định, hợp lệ được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
Sự có mặt của các đương sự: Nguyên đơn chị P có mặt; Bị đơn chị H anh T có mặt; Do vậy Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử đảm bảo sự có mặt của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa nguyên đơn không rút đơn khởi kiện; bị đơn vẫn giữ nguyên nội dung đơn kháng cáo;
[2] Xét nội dung kháng cáo:
Trong đơn kháng cáo của bị đơn và tại phiên tòa phúc thẩm chị H và anh T đều không nhất trí với quyết định của bản án sơ thẩm, anh chị cho rằng giấy biên nhận nợ ngày 09/5/2022 chỉ là để chốt nợ cho khoản vay ngày 09/4/2021; anh chị đã chuyển khoản số tiền 330.400.000đ cho chị P do đó đề nghị Tòa án tính để trừ vào tiền gốc tiền lãi của giấy biên nhận chốt nợ và bản án sơ thẩm còn buộc anh chị phải trả lãi cho chị P 18% năm là quá cao anh chị không nhất trí;
2.1. Đối với nội dung kháng cáo về giấy biên nhận nợ ngày 09/5/2022, chị H và anh T cho rằng giấy biên nhận nợ này là chốt nợ cho các khoản vay trước đó chứ không có việc giao nhận tiền vay nợ ngày 09/5/2022 nhưng tại cấp sơ thẩm cũng như tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay chị H và anh T chỉ trình bày như vậy mà không đưa ra chứng cứ nào để chứng minh cho nội dung này; mặt khác trong giấy biên nhận nợ ngày 09/5/2022 có nội dung chị Ngô Thị Thúy H vay 500.000.000đ của bà P, phía cuối giấy biên nhận chị H và anh T đều ký ghi rõ họ tên, nay chị H và anh T đều thừa nhận được tự nguyện ký kết trong giấy vay nợ này; hơn nữa toàn văn trong giấy biên nhận này không thể hiện nội dung tính đến ngày 09/5/2022 anh chị còn nợ chị P 500.000.000đ, do đó chị H và anh T cho rằng giấy biên nhận này có tính chất chốt các khoản nợ trước đó là chỉ nhằm thoái thác trách nhiệm trả nợ cho chị P mà thôi nên không có căn cứ chấp nhận;
2.1 Đối với nội dung kháng cáo số tiền chị H anh T đã chuyển khoản 330.400.000đ cho chị P: Như đã phân tích tại mục 2.1. thì giấy biên nhận nợ ngày 09/5/2022 không phải là giấy chốt nợ của các khoản vay trước đó mà là khoản tiền vay nợ ngày 09/5/2022 do đó số tiền 330.400.000đ chị H anh T đã chuyển khoản cho chị P chỉ có duy nhất một lần chuyển khoản ngày 26/8/2022 với số tiền 10.000.000đ là được chị H anh T thực hiện sau khi vay tiền ngày 09/5/2022, số tiền còn lại đều được chuyển khoản trước ngày 09/5/2022 do đó không có cơ sở để chấp nhận số tiền này anh T chị H chuyển khoản cho chị P là để trả nợ cho khoản vay ngày 09/5/2022, vì ngày 09/5/2022 hai bên mới giao kết giấy biên nhận vay nợ, đồng nghĩa với việc tại thời điểm này mới phát sinh quyền nghĩa vụ của các bên, vậy mà chị H và anh T xác định đã trả nợ trước khi giao kết giấy vay nợ tiền; hơn nữa còn thể hiện sự mâu thuẫn đó là nếu giấy biên nhận nợ ngày 09/5/2022 là giấy chốt nợ của khoản vay trước đó ngày 09/4/2021 với số tiền 500.000.000đ như vậy chị H anh T đã chuyển khoản trả nợ 330.400.000₫ mà ngày 09/5/2022 lại chốt nợ 500.000.000₫ là điều bất hợp lý, không khách quan nên không có căn cứ chấp nhận toàn bộ, chỉ chấp nhận số tiền 10.000.000₫ chuyển khoản ngày 26/8/2022 là để trả nợ gốc cho khoản vay ngày 09/5/2022;
2.1 Đối với nội dung kháng cáo về lãi suất: Chị H và anh T cho rằng bản án sơ thẩm buộc anh chị phải trả lãi cho bà P 18% năm là quá cao, yêu cầu này không có căn cứ xem xét chấp nhận bởi lẽ, chị P yêu cầu lãi suất 1,5% tháng đối với khoản tiền vay có kỳ hạn và có lãi được cấp sơ thẩm đã căn cứ vào quy định của pháp luật buộc chị H anh T phải trả lãi suất trên số nợ gốc cho chị P là 1,5% tháng tương ứng 18 % năm là phù hợp với quy định tại khoản 1 điều 468 Bộ luật Dân sự;
Từ những phân tích nêu trên Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ pháp lý để chấp nhận kháng cáo của chị H và anh T; Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm là có căn cứ được chấp nhận;
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Kháng cáo không được chấp nhận nên chị H và anh T phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;
[1]. Không chấp nhận kháng cáo của chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T.
[2]. Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 14/2024/DS-ST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
Căn cứ vào khoản 1 điều 463; điều 466; khoản 1 điều 468; khoản 2 điều 470; điều 357 Bộ luật Dân sự năm 2015. Căn cứ khoản 1 điều 26, khoản 1 điều 35; khoản 1 Điều 39, khoản 4 điều 147; điều 271; khoản 1 điều 272 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý vả sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị P.
Buộc chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T có nghĩa vụ trả cho bà Vũ Thị P các khoản tiền còn nợ của Giấy Biên nhận vay tiền đề ngày 9/5/2022 gồm:
- - Nợ gốc: 490.000.000 đồng (Bốn trăm chín mươi triệu đồng).
- - Nợ lãi: 170.060.000 đồng (Một trăm bảy mươi triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Tổng cả gốc và lãi là: 660.060.000 đồng (Sáu trăm sáu mươi triệu không trăm sáu mươi nghìn đồng).
Kể từ ngày bà Vũ Thị P đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự 2015.
Về án phí: Chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T phải chịu 30.402.000 đồng (Ba mươi triệu bốn trăm linh hai nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Vũ Thị P không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho bà P số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 12.000.000 đồng (Mười hai triệu đồng) theo biên lai số 0002572 ngày 05/10/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
[3]. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ khoản 1 Điều 148 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 1 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Chị Ngô Thị Thúy H và anh Nguyễn Quang T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0001706 ngày 20 tháng 6 năm 2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Bùi Xuân Trường |
Bản án số 66/2024/DS-PT ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 66/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo - Giữ nguyên bản án sơ thẩm
