TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày: 28 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ông Ngọc Lễ.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Ngụy Thanh Tuyên;
- Bà Hoàng Thị Lan.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Ngoan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định tham gia phiên tòa: Ông Phan Văn Trí - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2024/TLST-HS ngày 25 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn T; sinh năm 1988, tại huyện V, tỉnh Thái Bình; nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi ở hiện nay: Xóm Đ, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân L và bà Phạm Thị V. Vợ Trần Thị S (đã ly hôn); có 01 con, tiền án: Ngày 06-9-2022 bị Tòa án nhân dân huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định xử phạt 1 năm 6 tháng tù về tội “ Trộn cắp tài sản”, ra trại ngày 28-9-2023; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 28-02-2017 bị Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, ngày 31 tháng 01 năm 2019 Toà án nhân dân huyện Giao Thuỷ, tỉnh Nam Định quyết định đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc thời hạn 2 năm. Bị bắt tạm giam từ ngày 14-5-2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện G, T1 tỉnh Nam Định “có mặt”.
*Người bị hại: Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1962; địa chỉ: Xóm T, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định “vắng mặt”.
* Người làm chứng:
Anh Trần Văn H “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 06 giờ 30 phút ngày 20-4-2024, Nguyễn Văn T đi xe đạp từ nhà đến xã G mục đích xem ai có sơ hở về tài sản thì trộm cắp. Khi đi qua nhà bà Ngô Thị T2 ở xóm T, xã G, thấy nhà bà T2 mở cổng, mở cửa. Thiện quan sát xung quanh không có người trông coi, T để xe đạp ngoài cổng rồi đi vào bên trong nhà bà T2, thấy có 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen của bà T2 đang để trên nóc loa kéo đặt ở cạnh cửa buồng ngủ. T lén lút lấy chiếc điện thoại rồi điều khiển xe đạp đi về phía chợ xã G. Trên đường đi T tháo sim điện thoại vứt đi rồi mang chiếc điện thoại đến cửa hàng điện thoại Hưng Mobile ở xóm T xã G bán cho anh Trần Văn H là chủ cửa hàng lấy 350.000 đồng, tiêu sài cá nhân hết.
Sau khi mất điện thoại bà T2 đã đến Công an xã G và Công an huyện G trình báo sự việc.
Công an huyện G đã triệu tập Nguyễn Văn T đến làm việc, tại cơ quan Công an huyện G Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Vật chứng đã thu giữ:
Thu của anh Trần Văn H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh đen, thu giữ tại Ủy ban nhân dân xã G 01 đoạn video từ camera an ninh do ủy ban nhân dân xã Q ghi lại; thu giữ của Nguyễn Văn T3 01 xe đạp màu xanh.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 10/KL Ngày 06-5-2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện G kết luận: điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh đen tại thời điểm bị chiếm đoạt có trị giá 800.000 đồng.
Bản cáo trạng số 62/CT-VKS ngày 23-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thủy truy tố bị cáo Nguyễn Văn T3 về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố Nguyễn Văn T và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. xử phạt Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 01 năm tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối bị cáo.
2
Bị cáo không bào chữa tranh luận gì, lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện G, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và thành viên Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, cùng với tang vật đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 6 giờ 30 phút ngày 20-4-2024, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của gia đình bà Ngô Thị T2, Nguyễn Văn T đã lén lút vào nhà bà T2 trộm cắp chiếc điện thoại VIVO màu xanh có trị giá 800.000 đồng của bà T2 mang bán lấy tiền tiêu sài cái nhân. Bị cáo đã bị kết án về tội “Trộm cắp tài sản” đến nay chưa được xoá án tích, nên hành vi trộm cắp chiếc điện thoại có giá 800.000 đồng đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” như Viện kiểm sát nhân dân huyện Giao Thuỷ đã truy tố là phù hợp pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sử hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần phải xử lý nghiêm minh để giáo bị cáo và đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung.
[3] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo như sau: Năm 2017 bị cáo bị Toà án xét xử đã được xoá án tích, năm 2019 bị áp dụng đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc, nên bị cáo là người có nhân thân xấu; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào theo quy định của Bộ luật hình sự,về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
3
[4] Về hình phạt chính: Căn cứ vào tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử thấy cần xử phạt bị cáo bằng hình phạt tù có thời hạn, đủ tác dụng cải tạo bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội đồng thời răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Hành vi của anh Trần Văn H đã mua chiếc điện thoại do bị cáo T trộm cắp, nhưng anh H không biết là tài sản trộm cắp, xác định là giao dịch bất hợp pháp nhưng ngay tình, nên không xử lý đối với anh H là phù hợp pháp luật.
[7] Đối với chiếc điện thoại di độngVivo màu xanh đen đã thu giữ, quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Ngô Thị T2, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bà T2 đúng quy định của pháp luật.
Đối với chiếc xe đạp màu xanh thu giữ của Nguyễn Văn T, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Nguyễn Xuân L (bố đẻ của T). Khi T lấy xe đi trộm cắp ông L không biết nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông L là phù hợp.
Anh Trần Văn H mua chiếc điện thoại do T trộn cắp với giá 350.000 đồng, nay anh H không yêu cầu nên không xem xét.
[5] Về án phí, quyền kháng cáo: Bị cáo bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 1 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Trộm cắp tài sản”; xử phạt Nguyễn Văn T 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14-5-2024 .
2. Án phí: Căn Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
3. Về kháng cáo: Căn cứ các điều 331 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ông Ngọc Lễ |
5
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 28/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH về hình sự sơ thẩm (trộm cắp tài sản)
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Trộm cắp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIAO THỦY, TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt Nguyễn Văn T 9 tháng tù
