|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày: 28-6-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Biện Việt Hùng.
Các Hội thẩm nhân dân:1. Ông Nguyễn Văn Quang.
2. Ông Võ Thanh Đức.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Ngọc Song Yến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Hoàng Kim Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLST-HS ngày 6 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: TRỊNH MINH T (Tên gọi khác: B), sinh năm 1989 tại Bình Thuận; Nơi cư trú: Khu phố D, phường B, thị xã L, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trịnh Văn H, sinh năm: 1953 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm: 1964; Vợ Trần Thị Kim O, sinh năm: 1994 (Đã ly hôn) và 01 con chung; Tiền sự: Không; Tiền án: Ngày 26/9/2019, bị Toà án nhân dân thị xã La Gi xử phạt tổng cộng 02 năm 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tại Bản án số 67/2019/HSST. Bị cáo Trịnh Minh T bị tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024, hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 20 giờ ngày 14/04/2024 tại đoạn đường N giáp ranh giữa phường T và khu phố D, phường T, thị xã L, Công an phường T phát hiện Trịnh Minh T, sinh năm: 1989, nơi cư trú: khu phố D, phường B, thị xã L đang đứng cạnh xe máy hiệu Honda Blade màu đỏ, biển số 86B6- 298.99 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra. Qua kiểm tra, phát hiện trong túi quần phía sau bên phải của T đang mặc có 01 bóp da màu đen có chữ Levis, bên trong bóp da có 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng, kích thước (3x3,5)cm, bên trong có:
- 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng, kích thước (2,2x2,5)cm, chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu M1)
- 01 bịch nylon màu trắng, một đầu có nhíp kéo màu trắng viền màu đỏ, kích thước (4,5x2,5)cm, bên trong có 02 đoạn ống nhựa màu trắng xanh, được hàn kín, kích thước (0,9x2,5)cm, chứa tinh thể màu trắng (Ký hiệu M2).
Sau đó, Công an phường T bàn giao cho Công an phường T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để xử lý.
Tại Kết luận giám định số 433/KL-KTHS ngày 22/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Mẫu M1 gửi giám định có khối lượng 0,3185 gam, là Methamphetamine; Mẫu M2 gửi giám định có khối lượng 0,3623 gam, là Methamphetamine.
Về nguồn gốc số ma tuý nêu trên, Trịnh Minh T khai mua của một nam thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch) tại khu vực cầu T thuộc phường B, thị xã L với giá 200.000 đồng vào ngày 12/04/2024 để sử dụng. Sau khi mua được ma tuý, T đem về nhà ở khu phố D, phường B, thị xã L lấy một ít ra sử dụng, số còn lại T cất vào trong chiếc bóp da màu đen Levis. Đến khoảng 20 giờ ngày 14/04/2024, T cầm theo ma tuý và điều khiển xe máy hiệu Honda Blade, biển số: 86B6-298.99 chạy lên đường Nguyễn Công T1 để đợi bạn. Khi vừa đi vào đường hẻm và dừng xe lại thì bị lực lượng Công an phường T đi đến kiểm tra, phát hiện và thu giữ ma tuý như trên.
Vật chứng thu giữ trong vụ án đã được xử lý như sau:
- Đối với 02 gói nylon màu trắng, có khoá kéo; 01 gói nylon màu trắng có khoá kéo viền đỏ; 02 đoạn ống nhựa màu trắng xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,2958 gam mẫu M1 và 0,3437 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 433 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 ví da màu đen có chữ Levis, tất cả đã được Cơ quan điều tra chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự thị xã L để chờ xử lý.
- Đối với xe máy hiệu Honda Blade, biển số: 86B6-298.99, quá trình điều tra xác định đây là xe T mượn của chị Nguyễn Thị Tuyết T2, sinh năm: 1976, nơi cư trú: khu phố C, phường T, thị xã L để đi làm nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T2 vào ngày 25/4/2024.
Tại bản cáo trạng số 76/CT-VKSLG-HS ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân thị xã L đã truy tố bị cáo Trịnh Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Trịnh Minh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Tại phiên toà hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi giữ quyền công tố, tranh luận và phát biểu quan điểm xử lý vụ án như sau:
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy"
Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Minh T từ 02 năm 06 tháng tù đến 03 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 02 gói nylon màu trắng, có khoá kéo; 01 gói nylon màu trắng có khoá kéo viền đỏ; 02 đoạn ống nhựa màu trắng xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,2958 gam mẫu M1 và 0,3437 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 433 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 ví da màu đen có chữ L1 là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị.
Đối với người bán ma túy cho bị cáo Trịnh Minh T, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch người này nên không có căn cứ để điều tra, xử lý nên đề nghị không xét.
Tại phiên tòa bị cáo T xác định cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố là không sai và không tranh luận gì và đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Cơ quan điều tra Công an thị xã L và Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, theo hồ sơ đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự và thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không thắc mắc, khiếu nại về những hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị cáo bị truy tố về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, có khung hình phạt cao nhất đến 05 năm tù, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng quy định tại điểm b khoản 1 Điều 9 của Bộ luật Hình sự. Tội phạm được thực hiện tại địa bàn thị xã L, tỉnh Bình Thuận. Vì vậy, căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 268 và khoản 1 Điều 269 của Bộ luật Tố tụng hình sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận.
[3] Về căn cứ buộc tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu. Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và qua tranh tụng tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 20 giờ ngày 14/04/2024 tại đường N thuộc khu phố D, phường T, thị xã L, Trịnh Minh T có hành vi tàng trữ trái phép 0,6808 gam Methamphetamine, với mục đích để sử dụng thì bị lực lượng Công an phường T bắt quả tang, sau đó bàn giao cho Công an phường T tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ vật chứng và chuyển hồ sơ cho Cơ quan CSĐT Công an thị xã L để xử lý. Hành vi nêu trên của bị cáo đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và thực hiện hành vi với lỗi cố ý nên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự. Như vậy cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận đã truy tố đối với bị cáo T là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
[4] Về tính chất, mức độ nguy hiểm về hành vi phạm tội của bị cáo: Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo đã từng bị xét xử về tội phạm liên quan đến ma túy, bị cáo biết rõ tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và cộng đồng xã hội, bị cáo cũng nhận thức được Methamphetamine là loại ma túy gây nghiện, nhà nước nghiêm cấm và nghiêm khắc xử lý đối với mọi hành vi mua bán, vận chuyển, tàng trữ trái phép..... Bị cáo biết rõ ma túy là một trong những căn nguyên làm phát sinh nhiều loại tội phạm nguy hiểm khác cho xã hội, nhất là trong giai đoạn hiện nay tệ nạn ma túy ngày một gia tăng, gây ra những hậu quả, hệ lụy nguy hiểm cho xã hội nhưng bị cáo xem thường pháp luật, bất chấp hậu quả đã thực hiện hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới do cố ý nên bị cáo thuộc trường hợp “Tái phạm” là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên cần xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Trên cơ sở cân nhắc tính chất, mức độ phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và mức hình phạt do đại diện Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần phải xử lý nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để trừng trị, giáo dục bị cáo biết ý thức tuân thủ pháp luật, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới, đồng thời giáo dục những người khác biết tôn trọng pháp luật, tích cực tham gia phòng, chống tội phạm.
[6] Về xử lý vật chứng: 02 gói nylon màu trắng, có khoá kéo; 01 gói nylon màu trắng có khoá kéo viền đỏ; 02 đoạn ống nhựa màu trắng xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,2958 gam mẫu M1 và 0,3437 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 433 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 ví da màu đen có chữ L1 là vật cấm tàng trữ, lưu hành và không có giá trị nên tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[8] Về các vấn đề khác: Đối với người bán ma túy cho bị cáo Trịnh Minh T, quá trình điều tra không xác định được nhân thân, lai lịch người này nên không có căn cứ để điều tra, xử lý nên Hội đồng xét xử không xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; Điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Minh T 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 02 gói nylon màu trắng, có khoá kéo; 01 gói nylon màu trắng có khoá kéo viền đỏ; 02 đoạn ống nhựa màu trắng xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,2958 gam mẫu M1 và 0,3437 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 433 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 ví da màu đen có chữ Levis theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã L và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Trịnh Minh T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Quyền kháng cáo bản án của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (28/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Biện Việt Hùng |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 28/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt: Bị cáo Trịnh Minh T 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án và được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 15/4/2024 đến ngày 24/4/2024. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, tiêu hủy 02 gói nylon màu trắng, có khoá kéo; 01 gói nylon màu trắng có khoá kéo viền đỏ; 02 đoạn ống nhựa màu trắng xanh đã cắt lấy mẫu cùng 0,2958 gam mẫu M1 và 0,3437 gam mẫu M2 còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 433 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận; 01 ví da màu đen có chữ Levis theo biên bản giao nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 05 tháng 6 năm 2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi.