Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN SỐP CỘP

TỈNH SƠN LA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 27-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lường Văn Quyết.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Bạc Cầm Du.
  2. Ông Vũ Quyết Thắng.

- Thư ký phiên toà: Bà Cầm Thị Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sốp Cộp.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp tham gia phiên tòa: Ông Mai Văn Quyết – Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Sốp Cộp, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm trực tuyến công khai vụ án hình sự thụ lý số: 66/2024/TLST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024, đối với các bị cáo:

  1. Giàng A T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1990; số định danh cá nhân: 014090016445; nơi cư trú: Bản P, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): 12/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Giàng Nhịa C và con bà: Thào Thị D; vợ: Vàng Thị Đ; con: 04 người con, con lớn sinh 2007, con nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, giam từ ngày 14/5/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.
  2. Giàng A S, tên gọi khác: Không, sinh năm 1981; số định danh cá nhân: 014081000760; nơi cư trú: Bản T, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Trồng trọt; trình độ văn hoá (học vấn): Không biết chữ; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; con ông: Giàng Súa Chống và con bà: Thào Thị N; vợ: Lầu Thị D1; con: 04 người con, con lớn sinh 2000, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không.

Bị bắt tạm giam từ ngày 14/5/2024 đến ngày 05/7/2024 được áp dụng biện pháp cho bảo lĩnh, hiện nay đang cư trú tại bản T, xã S, huyện S. Có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: Mùa N, sinh năm 1989, nơi cư trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  • + Ông Vàng Vả V, sinh năm 1994, nơi cư trú: Bản N, xã Đ, huyện S, tỉnh Sơn La. Vắng mặt có lý do.
  • + Bà Vàng Thị Đ, sinh năm: 1990, nơi cư trú: Bản P, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.
  • + Ông Giàng Nhịa C, sinh năm 1963, Bản P, xã S, huyện S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A T: Ông Đặng Văn Q, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Giàng A S: Ông Nguyễn Bá L, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Có mặt.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại Mùa Nỏ Ká: Bà Trần Bích L1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh S. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Sáng ngày 22/02/2024, Giàng A T bị hỏng điện thoại nên lấy điện thoại di động của vợ là Vàng Thị Đ để sử dụng. Tu phát hiện trên ứng dụng facebook, messenger có tài khoản bằng tiếng Mông “Nhớ tình yêu tôi” không có ảnh đại diện, nhắn tin tình cảm với Đ nên T đã giả vờ là Đ nhắn tin lại với người đàn ông đó. Sau khi phát hiện, T đã tra hỏi thì Đ thừa nhận quen biết với người đàn ông đó trên mạng xã hội từ đầu năm 2023, hai người nảy sinh tình cảm nam nữ nên đã gặp nhau và quan hệ tình dục với nhau 05 lần, nhưng không nói người đó tên là gì, ở đâu.

Đến sáng ngày 26/02/2024, T gọi điện thoại cho Mùa Nỏ K, sinh năm 1989 trú tại bản Nà Tấu, xã Đ, huyện S (là người thường xuyên đi tìm mua trâu bò) đến nhà Tu ở bản P, xã S để bán bò. Ká đồng ý nhưng do có việc bận nên đến sáng ngày 28/02/2024 K mới đến gặp T để mua bò, tuy nhiên do không thống nhất được giá nên T không bán bò cho K. Tu tiếp tục đưa K đến nhà ông Giàng A L2 ở cùng bản Púng Báng để hỏi mua bò nhưng do ông L2 đòi giá cao nên K không mua được, sau đó K đi về nhà.

Đến khoảng 10 giờ ngày 28/02/2024, T kiểm tra điện thoại của Đ thì phát hiện tin nhắn “anh đi mua bò ở bản T, có gặp nhau không” nên T nghi ngờ K là người nhắn tin cho Đ và có quan hệ bất chính (vi phạm chế độ một vợ một chồng) với vợ mình. Tu nảy sinh ý định bắt giữ Ká để yêu cầu bồi thường danh dự, T vào tài khoản của Đ nhắn tin hẹn gặp K ở trên rừng ma gần nhà Văn hoá bản Nậm Tỉa và yêu cầu Đ đến điểm hẹn gặp K. Sau đó T có nhờ Giàng A V1Giàng A S đều là anh em họ của T đến khu rừng ma gần Nhà văn hóa bản Nậm Tỉa, xã S mai phục để chờ bắt quả tang KĐ.

Khoảng 12 giờ cùng ngày, K điều khiển xe mô tô đến khu vực nhà văn hóa bản N3, dừng xe đi bộ vào rừng ma ở trên đỉnh đồi có nhiều cây cối um tùm để gặp Đ thì phát hiện thấy V1S, K chạy quay lại chỗ để xe mô tô thì bị S đuổi theo rút chìa khóa xe mô tô của K, sau đó S gọi cho Giàng A T nói là đã bắt được K. Lúc này, T gọi cho ông Giàng Nhịa C (bố T), Giàng A D2 (Bí thư Chi bộ, trưởng bản Púng Báng) đến để giải quyết việc vợ mình có quan hệ bất chính với người đàn ông khác. Khi đến nơi, T liên tục ép hỏi K về việc quan hệ bất chính với Đ, nhưng K không thừa nhận và bỏ chạy. Thấy vậy, T dùng tay tát vào mặt của K một phát rồi dùng tay bắt, giữ, khống chế hai tay của K ra đằng sau lưng và bảo S đi lấy đoạn dây thừng màu xanh dài 3,5m đang để trên xe mô tô của T, S lấy dây thừng đến trói tay K lại, K tiếp tục vùng vẫy bỏ chạy không cho TS bắt giữ nên bị ngã, úp mặt xuống đường gây thương tích. Tu và S khống chế được K đưa lên xe mô tô của K để S điều khiển xe chở K đang trong tư thế bị trói tay về nhà ông Giàng Bả S1, ở bản P, xã S là trưởng dòng họ Giàng để giải quyết.

Khi đưa K đến nhà ông S1, T tiếp tục đe doạ đánh Mùa Nỏ K để ép buộc K thừa nhận có quan hệ tình dục với Vàng Thị Đ, do bị ép buộc, đe doạ đánh nên K đã nhận quan hệ tình dục với Đua 05 lần, lúc này T mới cởi trói cho K. Cùng lúc này để khách quan ông Giàng Nhịa C nhờ ông Thào Bả S2 là công an viên bản Púng Báng, xã S đến ghi lời khai đối với Vàng Thị ĐMùa N1 Ká nội dung lời khai KĐ đều thừa nhận có quan hệ tình cảm nam nữ và đã quan hệ tình dục với nhau 05 lần. Sau khi ép K thừa nhận có quan hệ bất chính với vợ mình, T yêu cầu K bồi thường danh dự cho mình số tiền 50.000.000đồng, nếu không bồi thường T sẽ không cho K về. Do K không mang đủ tiền nên T đã gọi điện báo tin cho vợ K là chị Vàng Thị N2 nói là K quan hệ bất chính với vợ T yêu cầu gia đình chị N2 đến bồi thường danh dự và chuộc Ká về. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày ông Mùa Giống K1 (bố đẻ K), chị Vàng Thị N2, Vàng Vả VVàng A P (em trai chị N2) đến, T tiếp tục yêu cầu K phải bồi thường danh dự cho T số tiền 50.000.000đồng. Sau đó ông Mùa G Khua xin nên T đồng ý giảm 5.000.000đồng, số tiền Ká phải bồi thường là 45.000.000đồng, T yêu cầu ông K1 ký vào biên bản thoả thuận việc bồi thường. Ká đưa tiền mặt trực tiếp 20.200.000đồng cho T và vay của Vàng A V2 chuyển qua tài khoản trả cho T số tiền 24.800.000đồng. Nhận tiền xong, T cho gia đình đưa K về nhà. Do bị thương tích nên T đã nhập viện điều trị tại Bệnh viện đa khoa huyện S từ ngày 01/3/2024 đến ngày 06/3/2024 thì xuất viện. Ngày 12/3/2024, Mùa Nỏ K đến tố giác hành vi phạm tội của Giàng A TGiàng A S tại Công an xã S, huyện S.

Ngày 29/12/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiến hành khám nghiệm hiện trường xảy ra việc bắt, giữ người trái phép tại đường liên bản Nậm Tỉa đi Huổi Sang ngay trước Nhà văn hóa bản N3, xã S đường đất không bằng phẳng rộng 05m, độ dốc 30% hướng Huổi Sang đi N.

Ngày 25/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện S đã ra Quyết định trưng cầu giám định số 114/QĐ-ĐTTH trưng cầu Trung tâm Pháp y tỉnh S giám định tổn hại % sức khỏe đối với Mùa Nỏ K. Tại Kết luận giám định số 131/KLTTCTY-TTYPY ngày 01/4/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh S, kết luận:

“1. Các kết quả chính:

  • + Sẹo vết thương phần mềm vùng đầu (xếp 01%).
  • + Sẹo vết thương phần mềm cổ tay phải (xếp 01%).
  • + Sẹo vết thương phần mềm cổ tay trái (xếp 01%).

2. Kết luận: Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ tổn thương của Mùa Nỏ K tại thời điểm giám định là 03% (Ba phần trăm), áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư.

Đối với những thương tích trên, xác định trong quá trình giằng co tự ngã nên Mùa Nỏ Ká không yêu cầu xử lý về hành vi cố ý gây thương tích.

Về bồi thường dân sự: Mùa Nỏ Ká yêu cầu Giàng A T bồi thường thiệt hại về sức khoẻ, tài sản và tinh thần tổng số tiền 10.000.000 đồng. Hiện nay Giàng A T đã bồi thường xong, Mùa N1 Ká không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Cáo trạng số: 53/CT-VKSSC ngày 12 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Sốp Cộp, truy tố Giàng A T về tội Bắt, giữ người trái pháp luật quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội Cưỡng đoạt tài sản quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự; truy tố Giàng A S về tội Bắt, giữ người trái pháp luật, quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà:

  • - Các bị cáo khai báo thành khẩn, nhận tội, thừa nhận toàn bộ hành vi là vi phạm pháp luật, Toà án xét xử là không oan sai.
  • - Bị hại Mùa Nỏ Ká xác nhận tại đơn xin xét xử vắng mặt như sau: Tình tiết, sự việc như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Sau khi sự việc xảy ra, anh đã trình báo cơ quan chức năng. Nay anh đã được các cơ quan chức năng trả lại 45.000.000 đồng và được gia đình các bị cáo bồi thường 10.000.000 đồng. Nay không có yêu cầu gì thêm.
  • - Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đều xác nhận: Đều là người thân quen của bị cáo; bị hại, không có yêu cầu gì và đều có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

- Kiểm sát viên sau khi trình bày luận tội, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố.

  • + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 58 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A T từ 07 đến 10 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; từ 14 đến 18 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành.
  • + Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 157, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A S từ 06 đến 08 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo với mức thử thách thích hợp. Giao bị cáo cho UBND nơi cư trú giám sát, giáo dục theo quy định.
  • + Các bị cáo không có tài sản, là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí; vật chứng xử lý theo quy định của pháp luật. Các bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo.

- Người Bào chữa cho các bị cáo trình bày: Các bị cáo đều dân tộc thiểu số, sống tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, trình độ dân trí thấp, nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế, các bị cáo phạm tội lỗi một phần do từ bị hại. Sau khi phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tích cực bồi thường và khắc phục hậu quả; được người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 170, các điểm i, b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; xử phạt các bị cáo mức án thấp nhất; miễn án phí cho các bị cáo.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại (vắng mặt) tại bản Luận cứ thể hiện: Nhất trí với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng. Bị hại đã được trả lại toàn bộ số tiền bị cưỡng đoạt và được bị cáo bồi thường thêm khoản tiền theo yêu cầu là 10.000.000 đồng. Nay không còn yêu cầu gì thêm. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 157, khoản 1 Điều 170, các điểm i, b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; ra một bản án phù hợp với tính chất mức độ hành vi của các bị cáo, vừa có tính răn đe, vừa có tính giáo dục, phòng ngừa chung.

- Các bị cáo không có ý kiến tranh luận và nhất trí với quan điểm của những người Bào chữa.

- Kiểm sát viên và những người Bào chữa không có ý kiến để tranh luận.

Sau khi được nói lời sau cùng, các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng:

  • - Cơ quan điều tra công an huyện S, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện S, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  • - Đối với bị hại Mùa Nỏ K và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Vàng Vả V vắng mặt tại phiên toà, nhưng đều có đơn xin xét xử vắng mặt nên Toà căn cứ khoản 1 Điều 292 Bộ luật tố tụng hình sự vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[2] Về chứng cứ xác định tội danh:

Ngày 28/02/2024, Giàng A TGiàng A S đã có hành vi bắt, giữ và trói tay đối với Mùa N1 Ká từ khu vực Nhà văn hóa bản N3, xã S về nhà ông Giàng Bả S1 ở bản P, xã S, huyện S. Sau khi bắt, giữ khống chế được Mùa N, Giàng A T đe doạ, buộc Mùa N1 Ká nhận quan hệ bất chính với Vàng Thị Đ (là vợ Giàng A T) và ép, buộc Mùa N1 Ká phải bồi thường danh dự với số tiền 45.000.000đồng. Sau khi nhận đủ số tiền từ bị hại các bị cáo mới thả bị hại về nhà.

- Tại phiên toà, các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội; lời khai nhận hoàn toàn thống nhất với lời khai tại cơ quan Điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ; lời khai nhận của các bị cáo cũng phù hợp với nội dung, tội danh của bản Cáo trạng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Quá trình xét hỏi, tranh luận không phát sinh tình tiết mới. Từ những phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử có cơ sở kết luận: Bị cáo Giàng A T đã phạm tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, theo quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự và tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự; bị cáo Giàng A S về tội “Bắt, giữ người trái pháp luật”, quy định tại khoản 1 Điều 157 Bộ luật hình sự. Do đó, khởi tố của cơ quan Điều tra và truy tố tội phạm của Viện kiểm sát đối với các bị cáo về tội danh trên là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm quyền tự do thân thể người khác; xâm phạm quyền sử sở hữu tại sản của công dân, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội.

[4] Về vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Giàng A T là người giữ vai trò chính (khởi xướng, rủ rê); bị cáo Giàng A S giữ vai trò thứ yếu, tiếp nhận ý trí của Giàng A T trong thực hiện tội phạm. Các bị cáo không có sự tổ chức, bàn bạc và phân công nhiệm vụ trong thực hiện hành vi phạm tội nên tính chất đồng phạm giản đơn, không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

  • - Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  • - Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan Điều tra và tại phiên toà (người phạm tội đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải); bị cáo Giàng A T đã tự nguyện bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại, là lao động chính trong gia đình và bị cáo có ông cụ là Giàng Nhịa C1 và bác là Giàng Khua D3 là người có công với cách mạng nên được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo Giàng A S phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, có bố đẻ là ông Giàng Súa C2 tham gia kháng chiến chống mỹ cứu nước được tặng giấy khen, nên cũng được hưởng 03 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi; căn cứ vào vai trò và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:

  • - Đối với bị cáo Giàng A T: Mặc dù có nhiều tình tiết giảm nhẹ, phạm tội do lỗi một phần từ bị hại. Tuy nhiên, bị cáo phạm tội với vai trò chính; bị xét xử cùng một lần về 02 tội. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng và cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định, nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và để phòng ngừa chung.
  • - Đối với bị cáo Giàng A S là người giữ vai trò thứ yếu, không được hưởng lợi, có nhiều tình tiết giảm nhẹ. Do đó, cần xem xét và không nhất thiết phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần cho bị cáo cải tạo, giáo dục tại địa phương cũng đảm bảo tính răn đe, giáo dục bị cáo.

[7] Về vấn đề khác liên quan trong vụ án:

  • - Quá trình bắt giữ, dẫn giải Mùa Nỏ K về nhà ông Giàng Bả S1 chỉ có Giàng A TGiàng A S thực hiện. Giàng A V1, Giàng A D2Giàng Nhịa C không tham gia và có lời can ngăn nên không có căn cứ để xử lý đối với Giàng A V1, Giàng A D2Giàng Nhịa Chá là có căn cứ, đúng pháp luật.
  • - Đối với ông Giàng Bả S1 là chủ nhà sau khi Giàng A TGiàng A S bắt, giữ Mùa N1 Ká đến để giải quyết việc bồi thường danh dự, nhưng ông S1 không được TS báo trước. Khi T đe doạ, ép buộc K nhận có hành vi quan hệ bất chính với Vàng Thị Đ ông S1 đã can ngăn, không đồng ý cho T đe doạ đánh đập Ká, ông S1 cũng không tham gia việc giúp T yêu cầu Ká bồi thường nên không có căn cứ để xử lý, là phù hợp.

[8] Vật chứng của vụ án: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI màu đen của Vàng Thị Đ. Tại phiên toà, bà Đ có ý kiến xin lại nên cần trả lại cho bà Đ. Đối với 02 chiếc áo (áo phông, áo khoác của bị hại), bị hại không yêu cầu trả lại và 01 đoạn dây thừng màu xanh, cần tiêu huỷ theo quy định của pháp luật,

[9] Về dân sự: Bị hại đã nhận lại được tài sản là số tiền 45.000.000 đồng và số tiền do bị cáo bồi thường 10.000.000 đồng. Nay không còn yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10] Về hình phạt bổ sung và án phí: Các bị cáo không có tài sản, là người dân tộc thiểu số, cư trú tại vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung (là phạt tiền) và được miễn án phí.

[11] Về điểm của Kiểm sát viên và Luật sư như: Nội dung, tội danh và các vấn đề khác đều phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên đều được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh và hình phạt:
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 157 và khoản 1 Điều 170, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58, Điều 55 và điều 38 Bộ luật hình sự.
    • + Tuyên bố bị cáo Giàng A T phạm tội: Bắt, giữ người trái pháp luật và tội Cưỡng đoạt tài sản.
    • + Xử phạt: Giàng A T 08 tháng tù về tội Bắt, giữ người trái pháp luật; 01 năm 02 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản. Tổng hợp hình phạt chung là 01 năm 10 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/5/2024.
    • - Căn cứ khoản 1 Điều 157 điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự.
    • + Tuyên bố bị cáo Giàng A S phạm tội: Bắt, giữ người trái pháp luật.
    • + Xử phạt: Giàng A S 06 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thử thách 12 tháng. Thời gian thử thách tính từ ngày tuyên án, ngày 27/9/2024.

    Giao bị cáo Giàng A S cho UBND xã S, huyện S, tỉnh Sơn La giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

    Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

    “Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Toà án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự”.

  2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) đoạn dây thừng màu xanh dài 3,5m; 01 (một) chiếc áo phông màu xanh trắng và 01 chiếc áo khoác màu đen kẻ sọc trắng.
    • - Trả lại cho bà Vàng Thị Đ: 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi.

    (Theo Quyết định chuyển vật chứng số 54 ngày 12/9/2024 của Viện kiểm sát huyện S và biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/9/2024 giữa Chi cục thi hành án dân sự huyện Sốp Cộp và Công an sự huyện S, tỉnh Sơn La).

  3. Về án phí: Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14. Các bị cáo được miễn án phí dân sự, hình sự sơ thẩm.
  4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án ngày 27/9/2024; người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Sơn La;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - VKSND huyện Sốp Cộp;
  • - THA hình sự; UBND xã Sam Kha;
  • - CCTHA Dân sự huyện Sốp Cộp;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lường Văn Quyết

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA về hình sự: bắt, giữ người trái pháp luật và cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự: Bắt, giữ người trái pháp luật và Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SÓP CỘP, TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giàng A T + ĐP phạm tội Bắt giữ người trái pháp luật
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger