Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NGỌC LẶC

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:66/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 27-8-2024

V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn "

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Thành

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thanh Hùng

Bà Hà Thị Hòa

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quý Hiếu - Thư ký Tòa án nhân dân, huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lanh - Kiểm sát viên

Ngày 27 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân, huyện N, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 96/2024/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST- HNGĐ, ngày 12 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Chị Lê Thị Đ - Sinh năm: 1993

    Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

    Địa chỉ nơi ở hiện nay: Thôn P, xã Y, huyện C, tỉnh Bắc Kạn.

  • - Bị đơn: Anh Phạm Thúc T - Sinh năm: 1984

    Địa chỉ: Thôn M, xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa.

Tại phiên tòa chị Lê Thị Đ và anh Phạm Thúc T đều vắng mặt. Chị Đ và anh T đều có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Đ trình bày: Chị và anh Phạm Thúc T tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn ngày 20/9/2012 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng không hợp tính nhau nên thường xuyên bất đồng về quan điểm sống, cách làm ăn cư xử trong gia đình dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống vợ chồng không còn tiếng nói chung, bản thân chị đã chịu đựng và cố gắng nhường nhịn nhưng mâu thuẫn ngày càng trầm trọng. Quá trình sinh sống, chị thường xuyên bị anh T đánh đập, hành vi của anh T được bà con trong xóm chứng kiến. Mâu thuẫn trầm trọng nhất kể từ đầu năm 2018 cho đến nay, kể từ đó vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết cho chị được ly hôn với anh Phạm Thúc T.

Về con chung: Quá trình chung sống chị và anh Phạm Thúc T có 02 con chung là Phạm Thúc S; sinh ngày 21/5/2015 và Phạm Thị H; sinh ngày 25/3/2017. Hiện nay cả hai cháu đang ở với anh Phạm Thúc T. Ly hôn chị có nguyện vọng giao cả hai cháu S và H cho anh Phạm Thúc T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, chị không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh T.

Về tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại bản tự khai gửi cho Tòa án quá trình giải quyết vụ án bị đơn anh Phạm Thúc T trình bày: Anh và chị Lê Thị Đ tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 20/9/2012 tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc được khoảng 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh và chị Lê Thị Đ không hợp nhau, về tính cách và quan điểm sống. Mâu thuẫn trầm trọng kéo dài từ năm 2018 cho đến nay, kể từ đó vợ chồng sống ly thân nhau, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay chị Lê Thị Đ làm đơn yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc giải quyết ly hôn với anh thì anh cũng đồng ý ly hôn.

Về con chung: Quá trình chung sống anh và chị Lê Thị Đ có 02 con chung là Phạm Thúc S; sinh ngày 21/5/2015 và Phạm Thị H; sinh ngày 25/3/2017. Hiện tại hai cháu S và H đang ở với anh. Nay ly hôn nguyện vọng của anh là được trực tiếp nuôi dưỡng cả hai cháu S và H cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành, anh không yêu cầu chị Lê Thị Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ngọc Lặc phát biểu ý kiến:

Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào nghị án là đúng với quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Lê Thị Đ đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn anh Phạm Thúc T thực hiện chưa đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 28, 35, 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự và các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình. Xử cho chị Lê Thị Đ được ly hôn với anh Phạm Thúc T. Vợ chồng có 02 con chung là Phạm Thúc S; sinh ngày 21/5/2015 và Phạm Thị H; sinh ngày 25/3/2017. Đề nghị chấp nhận sự tự nguyện của các đương sự về việc giao nuôi con chung, giao cả hai cháu S và H cho anh Phúc T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Chị Lê Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung, không ai được quyền ngăn cản. Buộc chị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Lê Thị Đ khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn đối với anh Phạm Thúc T. Theo quy định tại Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Ngọc Lặc, tỉnh Thanh Hóa.

Tòa án đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải cho các bên đương sự nhưng anh Phạm Thúc T không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh T theo quy định tại khoản 3 điều 210 BLTTDS.

Anh Phạm Thúc T đã được triệu tập đến phiên hoà giải nhưng anh T không đến để tham gia hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải được. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 1 điều 207 BLTTDS.

Chị Lê Thị Đ và anh Phạm Thúc T đều có đơn xin xét xử vắng mặt do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt chị Lê Thị Đ và anh Phạm Thúc T.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Đ và anh Phạm Thúc T kết hôn trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện N, tỉnh Thanh Hóa vào ngày 20/9/2012 nên được công nhận là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình giải quyết vụ án chị Đ và anh T đều thừa nhận: Mâu thuẫn vợ chồng không thể hòa giải được do vợ chồng không hợp tính nhau, bất đồng quan điểm sống và thường xuyên xảy ra cãi vã, thời gian vợ chồng ly thân nhau cũng kéo dài từ năm 2018 cho đến nay nên hôn nhân thực tế không còn tồn tại. Việc này đã được chính quyền Ủy ban nhân dân xã N xác nhận và cũng phù hợp với nội dung Biên bản xác minh tình trạng hôn nhân mà Tòa án đã tiến hành thu thập. Nay chị Lê Thị Đ yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Phạm Thúc T, chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần căn cứ Điều 51 và Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình xử cho chị Lê Thị Đ được ly hôn với anh Phạm Thúc T.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống chị Lê Thị Đ và anh Phạm Thúc T thống nhất có hai con chung là Phạm Thúc S; sinh ngày 21/5/2015 và Phạm Thị H; sinh ngày 25/3/2017. Ly hôn chị Đ và anh T đều có nguyện vọng giao cả hai cháu S và H cho anh T trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành. Hội đồng xét xử xét thấy đây là sự tự nguyện của các đương sự, đồng thời cũng phù hợp với nguyện vọng của các cháu nên chấp nhận. Chị Lê Thị Đ có quyền được đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản là phù hợp theo quy định tại các Điều 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân gia đình.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con: Tại bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án anh Phạm Thúc T xác định, anh có đủ điều kiện để đảm bảo việc nuôi con nên anh không yêu cầu chị Đ phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh, đây là sự tự nguyện của đương sự nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[5] Về chia tài sản chung: Chị Lê Thị Đ và anh Phạm Thúc T không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên hội đồng xét xử không xét.

[6] Về án phí: Buộc chị Lê Thị Đ phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm.

[7] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa hôm nay về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Tòa án nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39; 147; 227; 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ: Các Điều 51, 56, 81, 82 và 83 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ: Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Về hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Đ được ly hôn với anh Phạm Thúc T.
  2. Về con chung: Giao cháu Phạm Thúc S; sinh ngày 21/5/2015 và Phạm Thị H; sinh ngày 25/3/2017 cho anh Phạm Thúc T được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi các cháu đến tuổi trưởng thành.

    Chị Lê Thị Đ được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cấm, cản trở.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Lê Thị Đ không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

  3. Về án phí: Buộc chị Lê Thị Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng; nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004266 ngày 24 tháng 6 năm 2024 của Cơ quan Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ngọc Lặc, chị Lê Thị Đ đã nộp đủ án phí.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm vắng mặt chị Đ và anh T. Chị Lê Thị Đ và anh Phạm Thúc T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự”.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND huyện Ngọc Lặc;
  • - Chi cục THADS huyện Ngọc Lặc;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Ngọc Trung, huyện Ngọc Lặc;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Xuân Thành

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 27/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGỌC LẶC, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án ly hôn, tranh chấp nuoi con chung
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger