|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-PT Ngày: 27-5-2024 V/v tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHMINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Trang.
Các Thẩm phán: Bà Đặng Thị Bích Loan;
Bà Nguyễn Hoàng Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Vân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Đào Thị Ánh Tuyết - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 7/2024/TLPT-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”.
Do Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 28/2023/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận 3 bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2096/2024/QĐ-PT ngày 22 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 5882/QĐPT-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Cẩm D, sinh năm 1970 (có mặt).
- Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1, sinh năm 1969 (vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Hoàng Duy B (vắng mặt).
- Người kháng cáo: Nguyên đơn – bà Phạm Thị Cẩm D.
Địa chỉ: Số G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ liên lạc: 158/65/12 tổ G, KP4, Phạm Văn C, Phường 1, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Địa chỉ: Số G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, các đơn khởi kiện bổ sung và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – bà Phạm Thị Cẩm D trình bày:
Bà Phạm Thị Cẩm D và ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 tự nguyện đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/2004 ngày 23/02/2004 tại Ủy ban nhân dân Phường H2, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, không phù hợp quan điểm sống, cách sống, bất đồng ý kiến, bà phát hiện ông C1 không còn chung thủy. Hai bên đã cố gắng hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả, bà xác nhận vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông C1.
Về con chung: Bà Phạm Thị Cẩm D và ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 21/01/2005 đã trưởng thành, tuy nhiên, do đến nay vẫn còn tiếp tục việc học, chưa có thu nhập nên Bà yêu cầu ông C1 cấp dưỡng theo khả năng của ông C1.
Về tài sản chung:
- Bà yêu cầu ông C1 phải trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng là tiền bán tài sản chung (máy móc thiết bị tiệm Internet); số tiền 500.000.000 đồng công sức đóng góp giữ gìn căn nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chia ½ giá trị tiệm internet số 179 T, T là tài sản chung của bà và ông C1 tương đương 500.000.000 đồng.
- Yêu cầu ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 và Nguyễn Hoàng Duy B thanh toán số tiền 1.500.000.000 đồng tương đương 40 lượng vàng SJC bà đã đưa ông C1 để xây dựng, sửa chữa nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Số tiền 500.000.000 đồng là tiền bán tài sản chung (máy móc thiết bị tiệm internet), đây là số tiền bà tự tính toán, bà không có chứng cứ nào thể hiện ông C1 đã thanh lý máy móc thiết bị tiệm internet được số tiền bao nhiêu để cung cấp cho tòa.
Số tiền 500.000.000 đồng công sức đóng góp duy trì tài sản là căn nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh: Căn nhà này là tài sản của mẹ ông C1 – bà Hoàng Bích V, bà D là con dâu nhưng khi xây dựng nhà thì bà V có dành riêng cho bà 01 phòng để ở. Trong quá trình chung sống với ông C1, bà có tài sản riêng, nhưng khi vợ chồng làm ăn thua lỗ, bà đã bán tài sản của bà để thanh toán nên ông C1 phải có nghĩa vụ trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng xem như công sức đóng góp của bà để duy trì căn nhà trên.
Số vàng 40 lượng SJC bà đưa cho ông C1 để xây dựng, sửa chữa căn nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh: Việc bà giao số vàng này để xây dựng nhà thì mẹ ông C1 có biết sự việc, nhưng nay bà V đã mất nên không thể xác nhận được sự việc trên, bà không có chứng cứ nào khác để cung cấp cho Tòa án về việc đưa số vàng trên, người trực tiếp nhận vàng là ông C1.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà D rút yêu cầu buộc ông C1 phải trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng là tiền bán tài sản chung (máy móc thiết bị tiệm Internet); số tiền 500.000.000 đồng công sức đóng góp giữ gìn căn nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chia ½ giá trị tiệm internet số 179 T, T là tài sản chung của bà và ông C1 tương đương 500.000.000 đồng.
Trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm, ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 trình bày:
Ông thống nhất với lời trình bày của bà Phạm Thị Cẩm D về quá trình kết hôn, về con chung. Trong thời kỳ hôn nhân, giữa vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do không phù hợp quan điểm sống, cách sống, bất đồng ý kiến. Ông xác nhận vợ chồng không còn tình cảm, không có khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên Ông đồng ý với yêu cầu ly hôn của bà D.
Về con chung: Bà Phạm Thị Cẩm D và ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 21/01/2005. Ông đồng ý hỗ trợ bà D các khoản tiền cho việc học của con tùy theo khả năng.
Về tài sản chung: Ông không đồng ý các yêu cầu của bà D về việc buộc ông phải trả cho bà D số tiền 500.000.000 đồng là tiền bán tài sản chung (máy móc thiết bị tiệm Internet); số tiền 500.000.000 đồng công sức đóng góp giữ gìn căn nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chia ½ giá trị tiệm internet số 179 T, T là tài sản chung của bà và ông C1 tương đương 500.000.000 đồng.
Đối với số tiền tương đương 40 lượng vàng SJC, ông xác nhận bà D có bán vàng và đưa cho ông nhiều lần, tổng cộng khoảng 300 triệu đồng, tính theo giá vàng thời điểm 2003 khoảng 40 lượng. Số tiền này bà D đưa cho ông để làm ăn và chỉ dùng trong gia đình, không liên quan đến việc xây dựng nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, ông xác nhận đây là khoản nợ của cá nhân ông và đồng ý thanh toán cho bà D toàn bộ số nợ này. Tuy nhiên, số tiền này ông đã dùng để thanh toán nợ cho Ngân hàng S 4.5 tỷ đồng là nợ chung của ông và bà D theo Hợp đồng tín dụng số 107/2017/HĐTDTDH-CN/SHB.130107 ngày 14/8/2017. Ông đề nghị cấn trừ số nợ này vào tiền tương đương 40 lượng vàng SJC ông đã nhận của bà D. Ông đã nộp đơn phản tố vào ngày 18/6/2023 nhưng vì lý do cá nhân nên ông không nộp án phí phản tố, do đó, ông không yêu cầu giải quyết số nợ với Ngân hàng S trong vụ án này.
Bà D và ông C1 cùng xác nhận: Vào thời điểm năm 2018 khi bà D nộp đơn ly hôn thì tài sản chung của bà D và ông C1 gồm có: 02 tiệm Internet tại số I L, phường P, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh và tại số D Cách Mạng tháng 8, Phường A, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh do bà D quản lý. Bà D cho biết cả hai tiệm này bà D đã thanh lý tất cả trang thiết bị, số tiền này dùng vào việc thanh toán lương cho nhân viên và trả tiền mặt bằng. Ông C1 xác nhận giá trị của 02 tiệm Internet này khoảng 700.000.000 đồng. Ngoài tài sản trên, hai bên không có thêm bất cứ tài sản chung nào khác.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan – ông Nguyễn Hoàng Duy B trình bày: Ông không đồng ý với yêu cầu của bà D về việc buộc ông cùng với ông C1 trả lại số khoản tiền tương đương 40 lượng vàng; số tiền, vàng này ông không biết và không nhận, gia đình ông cũng không nhận từ bà D số tiền, vàng nào để xây dựng nhà; nếu giữa bà D và ông C1 có việc giao nhận số tiền, vàng nào là việc riêng của bà D và ông C1, ông và gia đình không biết nên không chấp nhận yêu cầu này của bà D.
Tại Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 28/2023/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận 3 quyết định:
“1. Đình chỉ các yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Cẩm D về việc buộc ông C1 phải trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng là tiền bán tài sản chung (máy móc thiết bị tiệm Internet); số tiền 500.000.000 đồng công sức đóng góp giữ gìn căn nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chia ½ giá trị tiệm internet số 179 T, T tương đương 500.000.000 đồng là tài sản chung của bà và ông C1.
2. Công nhận sự thỏa thuận của đương sự:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm D và ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 cùng thuận tình ly hôn.
- Về con chung: Nguyễn Hoàng Bảo H sinh ngày 21/01/2005 đã trưởng thành. Ông C1 tự nguyện hỗ trợ bà D chi phí cho việc học của con tùy theo khả năng.
3. Tuyên xử:
Buộc ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Phạm Thị Cẩm D 40 lượng vàng SJC tương đương số tiền 2.726.000.000 đồng một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông C1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng ông C1 còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.”
Ngoài ra, Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm còn quyết định về án phí sơ thẩm, quyền yêu cầu thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 26/9/2023, bà Phạm Thị Cẩm D có đơn kháng cáo đối với Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 28/2023/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận 3. Ngày 27/9/2023, bà Phạm Thị Cẩm D có đơn kháng cáo sửa đổi, bổ sung đơn kháng cáo ngày 26/9/2023, nội dung đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về phần tài sản, buộc ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 và ông Nguyễn Hoàng Duy B phải thanh toán cho bà số tiền tương đương 40 lượng vàng SJC mà bà đã đóng góp vào việc xây dựng lại căn nhà G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn trình bày: Năm 2003, bà đưa 40 lượng vàng SJC cho bà V (mẹ của ông C1) để sửa chữa nhà G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian đầu bà cùng ông C1 cũng ở tại căn nhà này, mới dọn ra ở nhà thuê khi bà và ông C1 xảy ra mâu thuẫn. Sau khi bà V chết có để lại 1 phần tài sản là căn nhà G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh cho ông C1. Ông C1 có hứa là khi nào bán căn nhà trên sẽ hoàn lại cho bà 40 lượng vàng SJC. Do đó, bà yêu cầu cả ông C1 và ông B cùng có trách nhiệm hoàn trả cho bà 40 lượng vàng SJC.Kiểm sát viên phát biểu:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Đề nghị giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm số 28/2023/HNGĐ-ST ngày 12/9/2023, không chấp nhận kháng cáo của bà Phạm Thị Cẩm D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bà Phạm Thị Cẩm D còn trong thời hạn luật định nên được chấp nhận.
[2] Về nội dung:
Bà Phạm Thị Cẩm D kháng cáo yêu cầu sửa bản án sơ thẩm như sau : Bà yêu cầu ông C1 và ông B thanh toán lại cho bà số tiền tương đương 40 lượng vàng mà bà đã góp vào sửa chữa căn nhà số G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
HĐXX xét thấy, bà D trình bày bà đã đưa cho bà Hoàng Bích V (là mẹ ruột của ông C1) 40 lượng vàng SJC, tuy nhiên không có làm giấy tờ gì cả.Tuy nhiên căn cứ vào giấy thỏa thuận ngày 29/8/2018 thể hiện bà D có đưa cho ông C1 40 lượng vàng SJC để sửa nhà số G đường H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh, thời điểm này căn nhà do mẹ ông C1 là bà V là chủ sở hữu. Trong giấy thỏa thuận chỉ có 1 mình ông C1 đứng tên nhận tiền của bà D, mục đích vay tiền là để sửa nhà, thời gian trả lại tiền là sau khi ông C1 bán căn nhà trên.
Tại bản tự khai và biên bản phiên tòa bút lục số 323,324 bà D trình bày số tiền tương đương 40 lượng vàng bà đưa cho ông C1 trước thời điểm 2 bên kết hôn, sau này đến năm 2018 bà và ông C1 mới làm lại giấy thỏa thuận. Việc bà đưa tiền cho ông C1 và ông C1 xác nhận bà D đã đưa cho ông rất nhiều lần tiền, tổng cộng là 300.000.000đ (tương đương là 40 lượng vàng tại thời điểm năm 2003), mục đích là để làm ăn và chi dùng trong gia đình. Tại phiên tòa ông C1 cũng đồng ý hoàn trả toàn bộ số tiền trên cho bà D. Tòa cấp sơ thẩm buộc ông C1 có trách nhiệm thanh toán cho bà D 40 lương vàng SJC tương đương số tiền 2.726.000.000 đồng 1 lần ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật là có căn cứ và đúng quy định pháp luật.
Bà D yêu cầu ông B cùng có trách nhiệm liêm đới trả nợ cùng ông C1 là không có cơ sở, như đã nhận định ở trên, việc giao nhận tiền chỉ có bà D và ông C1, không có ông B tham gia. Bà D cho rằng ông C1 nhận tiền để sửa nhà nhưng ông C1 thì không thừa nhận điều này. Và giấy thỏa thuận giữa 2 bên cũng được làm lại sau này nên không có cơ sở buộc ông B cùng có trách nhiệm trả nợ cho bà D.
Từ những nhận định trên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn – bà Phạm Thị Cẩm D.
[3] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Tòa án cấp phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo nên người kháng cáo phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 148; Khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ vào Khoản 1 Điều 29 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Giữ nguyên Bản án hôn nhân và gia đình sơ thẩm số 28/2023/HNGĐ-ST ngày 12 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân quận 3:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – bà Phạm Thị Cẩm D:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Phạm Thị Cẩm D và ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 thuận tình ly hôn.
- - Về con chung: Bà Phạm Thị Cẩm D và ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 có 01 con chung tên: Nguyễn Hoàng Bảo H, sinh ngày 21/01/2005 đã trưởng thành nên Tòa án không giải quyết. Ghi nhận sự tự nguyện hỗ trợ chi phí cho việc học của Nguyễn Hoàng Bảo H của ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1.
- - Về tài sản chung: Buộc ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 phải có trách nhiệm thanh toán cho bà Phạm Thị Cẩm D 40 lượng vàng SJC tương đương số tiền 2.726.000.000 đồng một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày bà D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu ông C1 không thực hiện nghĩa vụ trả tiền thì hàng tháng ông C1 còn phải chịu lãi đối với số tiền chậm trả theo qui định tại Điều 357 Bộ luật dân sự.
- Đình chỉ các yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Cẩm D về việc buộc ông C1 phải trả cho bà số tiền 500.000.000 đồng là tiền bán tài sản chung (máy móc thiết bị tiệm Internet); số tiền 500.000.000 đồng công sức đóng góp giữ gìn căn nhà G H, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh; chia ½ giá trị tiệm internet số 179 T, T tương đương 500.000.000 đồng là tài sản chung của bà và ông C1.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
Bà Phạm Thị Cẩm D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0021245 ngày 05/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Thị Cẩm D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hoàng Mạnh C1 phải chịu 86.520.000 (tám mươi sáu triệu năm trăm hai mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. H1 lại cho bà Phạm Thị Cẩm D số tiền 37.200.000 (ba mươi bảy triệu hai trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0021244 ngày 05/9/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận 3, Thành phố Hồ Chí Minh
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà Phạm Thị Cẩm D phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, nhưng được trừ vào 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0000906 ngày 28/9/2023 của Cục Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Phạm Thị Cẩm D đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Trang |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-PT ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: HN, tài sản
