Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH LONG AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 26-4-2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Diễm

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Đỗ Hồng Thanh
  2. Bà Nguyễn Thị Bích Phượng

Thư ký phiên tòa: ông Lê Trần Tấn Huy – Thư ký Toà án nhân dân huyện C, tỉnh Long An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C tham gia phiên tòa: Ông Phạm Quốc Huy – Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 65/2024/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 01 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 28 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Võ Thị Hồng G, sinh năm 1985;
  2. Địa chỉ: ấp C xã L huyện C tỉnh Long An.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Hoàng Ẩ, sinh năm 1982;
  4. Địa chỉ: ấp C xã L huyện C tỉnh Long An.

(các đương sự vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 03/10/2023, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Võ Thị Hồng G trình bày:

Do mai mối nên bà và ông Nguyễn Hoàng Ả đã xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2014, có tổ chức cưới hỏi, được gia đình 2 bên đồng ý và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L vào ngày 05/12/2014.

Sau khi cưới bà và ông Ẫ sống chung nhà chồng tại ấp C xã L, 02 năm sau thì cất nhà sống riêng. Cuộc sống chung của vợ chồng hạnh phúc đến năm 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do mâu thuẫn kinh tế, ông A hay uống rượu, mỗi lần say là đánh bà và con, sự việc xảy ra nhiều lần, bà cũng có khuyên nhủ nhưng ông Ả không sửa đổi.

Từ năm 2020 bà và ông A không còn sống chung với nhau nữa, bà thuê nhà trọ sống. Từ đó đến nay bà và ông A có gặp nhau nhưng không bên nào có ý muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nay bà xét thấy mâu thuẫn ngày càng trầm trọng hơn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể tiếp tục nên bà yêu cầu được ly hôn với ông Á. Năm 2022 bà có nộp đơn xin ly hôn nhưng sau đó rút đơn cho ông  cơ hội sửa chữa nhưng không được.

Về con chung: bà và ông A có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Kim Q, sinh ngày: 16/9/2015, về con chung sau khi ly hôn bà yêu cầu nuôi con chung, không yêu cầu ông Á cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, không yêu cầu tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Hoàng Ả không có lời trình bày.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án không tiến hành hòa giải được vì ông Nguyễn Hoàng Á vắng mặt không có lý do nên Tòa án quyết định đưa ra vụ án xét xử.

Tại phiên tòa, ông Phạm Quốc H – đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Long An phát biểu ý kiến:

Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tuân theo pháp luật tố tụng và các đương sự trong vụ án đã chấp hành pháp luật kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Riêng bị đơn mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa.

Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu ly hôn của bà Võ Thị Hồng G là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận cho bà Võ Thị Hồng G được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Ẩ. Về con chung: có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Kim Q, sinh ngày: 16/9/2015, giao con chung cho Võ Thị Hồng G được nuôi dưỡng, ông Nguyễn Hoàng Ả không phải cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

Chứng cứ mà bà Võ Thị Hồng G cung cấp trong vụ án là: Bản chính giấy chứng nhận kết hôn; Bản sao CCCD của bà G, bản sao giấy khai sinh con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bà Võ Thị Hồng G khởi kiện yêu cầu ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Á. Ông Ẩ cư trú tại xã L huyện C, tỉnh Long An. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Long An thụ lý giải quyết vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

Tại phiên tòa, bà Võ Thị Hồng G vắng mặt nhưng có đơn xin xét xử vắng mặt. Tại biên bản xác minh của Công an xã L xác nhận ông Nguyễn Hoàng Á có đăng ký thường trú tại xã L, huyện C hiện đang sinh sống tại địa phương. Do đó Toà án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng cho ông Á, ông A đã được thông báo về việc Tòa án thụ lý vụ án, về phiên họp kiểm tra tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, về thời gian xét xử sơ thẩm nhưng vẫn vắng mặt, cũng không có lời trình bày hay ý kiến phản hồi gửi cho Tòa án. Căn cứ vào quy định tại các Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bà G và ông Â.

Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải theo quy định tại Điều 205, 207 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng không tiến hành hoà giải được do vắng mặt đương sự. Vụ án được đưa ra xét xử theo thủ tục chung.

[2] Xét yêu cầu ly hôn của bà G, thấy rằng: bà G và ông Ả xác lập quan hệ vợ chồng vào năm 2014, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã L cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/12/2014 nên hôn nhân của bà G và ông Ả là hôn nhân hợp pháp. Theo bà G trình bày nguyên nhân mâu thuẫn là từ kinh tế gia đình, ngoài ra ông A hay uống rượu, mỗi lần say là đánh bà G và con, sự việc xảy ra nhiều lần, bà G cũng có khuyên nhủ nhưng ông Ả không sửa đổi. Từ năm 2020 bà G và ông Á không còn sống chung với nhau nữa. Từ đó đến nay bà G và ông Ẩ cũng có gặp nhau nhưng không ai có ý muốn hàn gắn hạnh phúc gia đình. Nay xét thấy tình cảm không còn nên bà G yêu cầu được ly hôn với ông Ẩ.

Về phía ông Ẩ, từ khi bà G nộp đơn khởi kiện đến nay mặc dù đã được tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, biết rõ yêu cầu khởi kiện xin ly hôn của bà G nhưng ông Á cũng không có ý kiến gì, liên tiếp vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án cho thấy ông Ả không có ý định hàn gắn tình cảm vợ chồng và gìn giữ cuộc hôn nhân này. Căn cứ vào nguyên nhân mâu thuẫn mà bà G đã trình bày chứng tỏ tình trạng hôn nhân giữa bà G và ông A đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà G là phù hợp.

[3] Về con chung: bà G và ông A có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Kim Q, sinh ngày: 16/9/2015. Sau khi ly hôn bà G yêu cầu được tiếp tục nuôi con chung. Xét thấy, cuộc sống của con chung đang ổn định, phát triển bình thường. Ông A đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng thể hiện yêu cầu về nuôi con của bà G nhưng không có ý kiến phản hồi gì. Tại Bản tự khai của cháu Q cũng thể hiện nguyện vọng của cháu là được sống chung với mẹ trong trường hợp cha mẹ cháu ly hôn. Do đó để tạo mọi điều kiện tốt nhất cho con chung của bà G và ông A được phát triển toàn diện về thể chất lẫn tinh thần, đảm bảo quyền và lợi ích mọi mặt của con chung chưa thành niên khi bà G và ông Á ly hôn, cần giao con chung cho bà G được trực tiếp chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng theo quy định tại các Điều 58; 81; 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về phần cấp dưỡng nuôi con: bà Võ Thị Hồng G không yêu cầu ông Nguyễn Hoàng A cấp dưỡng nuôi con do đó ông Nguyễn Hoàng Ả không phải cấp dưỡng nuôi con.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: bà Võ Thị Hồng G trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: bà Võ Thị Hồng G phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Võ Thị Hồng G về việc "Ly hôn" với ông Nguyễn Hoàng Ẩ.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Võ Thị Hồng G được ly hôn với ông Nguyễn Hoàng Ẩ.
  2. Về con chung: giao con chung tên Nguyễn Hoàng Kim Q, sinh ngày: 16/9/2015 cho bà Võ Thị Hồng G được tiếp tục nuôi dưỡng.
  3. Về cấp dưỡng nuôi con: ông Nguyễn Hoàng Ả không phải cấp dưỡng nuôi con.

    Bên không nuôi con vẫn có quyền và nghĩa vụ tới lui thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được quyền ngăn cản, vì lợi ích của con chung khi có yêu cầu một hoặc hai bên đương sự Toà án có thể quyết định thay đổi việc nuôi dưỡng hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.

    Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  4. Về án phí: Buộc bà Võ Thị Hồng G chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0009980 ngày 16/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Long An. Bà Võ Thị Hồng G đã nộp đủ án phí.

Án xử sơ thẩm công khai, bà Võ Thị Hồng G và ông Nguyễn Hoàng Ẫ vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Long An;
  • - VKSND huyện C;
  • - THA huyện C;
  • - UBND xã L;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HS;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa





Ngô Thị Thùy Diễm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH LONG AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Giang LH An
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger