|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2023/HS-ST Ngày: 25- 8- 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Thanh Hải
2. Ông Vũ Văn Hoàn
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Nam Thái – Thư ký Toà án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên toà: Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2023 tại Nhà văn hóa xóm T3, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 63/2023/TLST-HS ngày 27/7/2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2023/QĐXXST-HS ngày 07/8/2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lê Duy H, tên gọi khác: Không; sinh ngày 05/9/1990; Nơi sinh: Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Duy T, đã chết; Con bà: Trần Thị T1, sinh năm 1968; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Có vợ là: Hoàng Thị Y, sinh năm 1993, có 02 con chung, con lớn sinh năm 2015, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2020 bị Công an thành phố T xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc; Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 15/6/2023 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- Bà Trần Thị T1, sinh năm 1968 – Có mặt
- Chị Hoàng Thị Y, sinh năm 1993 – Có mặt
- Cùng nơi cư trú: Tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
- Anh Liễu Văn C, sinh năm 1995 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
* Người chứng kiến:
- Ông Lương Quang N, sinh năm 1968 – Vắng mặt
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1958 – Vắng mặt
Nơi cư trú: Tổ F, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
Nơi cư trú: Tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22 giờ 15 ngày 15/6/2023, Tổ công tác Công an huyện Đ làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát tại khu vực tổ C, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã phát hiện có 01 xe ô tô BKS: 20A– 427.45 dừng ở ven đường có biểu hiện liên quan đến ma túy. Tổ công tác tiến hành kiểm tra trong xe có hai người là Lê Duy H và Liễu Văn C, sinh năm 1985, trú tại xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Quá trình kiểm tra đối với H, H tự giác lấy từ trong túi quần phía trước bên phải đang mặc ra 01 gói giấy màu trắng bên trong có 02 viên nén màu vàng và 01 túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác, số tiền 800.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam tại túi quần phía trước bên trái. H khai đó là ma túy tổng hợp của H đang chuẩn bị bán cho C thì bị bắt và số tiền 800.000 đồng là tiền do C vừa đưa cho H để mua ma túy. Kiểm tra đối với C không phát hiện thu giữ gì. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng như trên. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA-VIOS mang BKS: 20A-427.45; 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu xanh.
Hồi 07 giờ 40 phút ngày 16/6/2023, cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Duy H tại tổ H, phường C, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên, kết quả: Không phát hiện, thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Hồi 08 giờ 40 phút ngày 16/6/2023 tiến hành cân xác định khối lượng số chất tinh thể màu trắng thu giữ của Lê Duy H khi bắt quả tang là 0,196 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A1. Cân xác định khối lượng 02 viên nén màu vàng thu giữ của Lê Duy H khi bắt quả tang là 0,654 gam và lấy toàn bộ làm mẫu gửi giám định ký hiệu A2.
Tại bản Kết luận giám định số 835/KL-KTHS ngày 24/6/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh T kết luận: Mẫu chất tinh thể màu trắng trong niêm phong ký hiệu A1 gửi giám định là chất ma túy; Loại Ketamine; Khối lượng là 0,196 gam. Mẫu viên nén màu vàng trong niêm phong ký hiệu A2 gửi giám định là chất ma túy; Loại MDMA; Khối lượng là 0,654 gam.
Quá trình điều tra đã làm rõ. H là người nghiện ma túy. Khoảng 21 giờ ngày 13/6/2023, H đi đến khu vực siêu thị V thuộc khu vực phường Q, thành phố T với mục đích tìm mua ma túy tổng hợp để sử dụng cho bản thân và bán kiếm lời. Đến nơi H gặp một người đàn ông không quen biết, qua giao dịch H mua của người đàn ông đó 03 viên ma túy tổng hợp loại MDMA và ma túy tổng hợp loại Ketamine với giá 1.300.000 đồng. Sau khi mua được ma túy tổng hợp H về nhà sử dụng 01 viên ma túy tổng hợp MDMA và một phần ma túy tổng hợp Ketamine. Đến khoảng khoảng 21 giờ ngày 15/6/2023 H đang ở nhà thì có Liễu Văn C gọi điện thoại bằng số 0964.327.*** đến số điện thoại di động của H có số thuê bao 0354.327.*** hỏi mua 800.000 đồng ma túy tổng hợp. H đồng ý rồi hẹn đến khu vực nhà nghỉ H1 thuộc tổ C, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để bán ma túy, sau đó H lấy 02 viên ma túy tổng hợp MDMA được gói bằng giấy màu trắng và ma túy tổng hợp loại Ketamine được gói bằng túi nilon màu trắng cất giấu vào túi quần phía trước bên phải mang đi bán cho C rồi điều khiển xe ô tô BKS: 20A– 427.45 đến nhà nghỉ H1. Đến nới H gặp C, C lên xe rồi đưa cho H số tiền 800.000 đồng, H nhận tiền và cất vào túi quần phía trước bên trái nhưng chưa kịp đưa ma túy cho C thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ vật chứng như trên.
Vật chứng của vụ án: 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA-VIOS, BKS: 20A– 427.45, quá trình điều tra đã trả cho gia đình H quản lý sử dụng; 03 phong bì niêm phong ký hiệu A1, A2, LK; 01 phong bì niêm phong ký hiệu ĐT1; Số tiền 800.000 đồng. Hiện số vật chứng còn lại đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.
Tại bản Cáo trạng số 67/CT-VKSĐH, ngày 25/7/2023 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố Lê Duy H về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 36 đến 42 tháng tù. Phạt bổ sung bị cáo từ 05 đến 07 triệu đồng nộp ngân sách nhà nước.
Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu: A1, A2 và LK. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT1. Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 800.000 đồng tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thu giữ của bị cáo do liên quan đến việc mua ma túy.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát; trong lời nói sau cùng bị cáo xin được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật và xin hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh: Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 15/6/2023, tại khu vực tổ C, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Lê Duy H đang có hành vi tàng trữ 0,196 gam ma túy loại Ketamine và 0,654 gam ma túy loại MDMA mục đích để bán cho Liễu Văn C, sinh năm 1995, trú tại xóm Đ, xã N, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên với giá 800.000 đồng nhưng chưa kịp bán thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên phát hiện bắt quả tang thu giữ toàn bộ số ma túy trên và một số vật chứng có liên quan.
Về nguồn gốc số ma túy trên là do H mua của một người đàn ông lạ mặt (không biết tên, địa chỉ cụ thể) vào khoảng 21 giờ ngày 13/6/2023 tại khu vực siêu thị V thuộc phường Q, thành phố T với giá 1.300.000 đồng, sau đó mang về nhà để bản thân sử dụng một phần và bán kiếm lời.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang; lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến; vật chứng đã thu giữ; bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và các loại tội phạm khác, gây mất trật tự trị an ở địa phương. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 251 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng.....”
[2]. Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự nhưng có nhân thân xấu và là đối tượng nghiện chất ma túy. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Khi lượng hình cần áp dụng hình phạt tù buộc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Tuy nhiên cũng sẽ xem xét giảm một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được lượng khoan hồng của pháp luật yên tâm cải tạo tốt sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[3]. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo mua bán ma túy mục đích để kiếm lời, nên cần áp dụng khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền từ 5.000.000 đồng đến 7.000.000 đồng nộp ngân sách Nhà Nước.
[4]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng và hình phạt đối với bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ, tương xứng với tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5]. Vật chứng của vụ án:
- Đối với 03 phong bì niêm phong kí hiệu A1, A2 và LK (bên trong có chứa vỏ bì và số chất ma túy còn lại sau giám định) là vật chứng của vụ án không có giá trị và giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu xanh đã cũ thu giữ khi bắt quả tang bị cáo, đây là chiếc điện thoại bị cáo đã sử dụng liên lạc để bán ma túy cho Liễu Văn C vào ngày 15/6/2023 nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với số tiền 800.000 đồng tiền Ngân hàng N1 thu giữ của bị cáo khi bắt quả tang, đây là tiền liên quan trực tiếp đến việc mua bán trái phép ma túy giữa anh C với bị cáo ngày 15/6/2023 nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.
- Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA-VIOS, BKS 20A– 427.45, quá trình điều tra đã làm rõ chiếc xe ô tô trên là do mẹ của bị cáo là bà Trần Thị T1 bỏ tiền ra mua để sử dụng chung trong gia đình, ngày 15/6/2023 bị cáo sử dụng để đi bán ma túy gia đình hoàn toàn không biết và không có liên quan nên ngày 14/7/2023 Công an huyện Đ đã trả cho gia đình bị cáo quản lý sử dụng là phù hợp với quy định của pháp luật.
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử; Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[8]. Ngoài ra, trong vụ án này, bị cáo khai đã mua ma túy của một người đàn ông không biết tên, địa chỉ tại khu vực siêu thị V thuộc phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên; do không xác định được lai lịch địa chỉ cụ thể của đối tượng trên nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không có đủ cơ sở điều tra, làm rõ để xử lý là phù hợp.
[9]. Đối với hành vi mua ma túy để sử dụng của Liễu Văn C ngày 15/6/2023 nhưng chưa thực hiện được nên chưa đến mức xem xét xử phạt vi phạm hành chính hoặc trách nhiệm hình sự. Ngày 13/7/2023 Công an huyện Đ lập biên bản giáo dục nhắc nhở đối với C là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Lê Duy H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Lê Duy H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
- Vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn kí hiệu: A1, A2, LK.
- - Tịch thu sung quỹ Nhà nước: 01 (một) phong bì niêm phong còn nguyên vẹn ký hiệu ĐT1 bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA vỏ màu xanh đã cũ; số seri: 353846502202988. Số tiền 800.000đ (Tám trăm nghìn đồng) tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
- (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/8/2023 giữa Công an huyện Đ với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Đ).
- Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Lê Duy H phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, bà T1, chị Y, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Liễu Văn C, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
Bản án số 66/2023/HS-ST ngày 25/08/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 66/2023/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/08/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: : Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự. Xử phạt: Lê Duy H 36 (Ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2023. Phạt bổ sung bị cáo 5.000.000đ (Năm triệu đồng) nộp ngân sách Nhà nước. Quyết định tạm giam bị cáo Lê Duy H 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
