TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số:66/2024/HNGĐ-HT Ngày: 24-6-2024 V/v tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Trần Văn Nhị
- Ông Võ Đức Huy
Thư ký phiên tòa: Ông Cao Thái Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thường Ân - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 137/2023/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2023 về việc “Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 24 tháng 5 năm 2024, giữa:
- - Nguyên đơn: Ông Trần Văn H, sinh năm 1977. Địa chỉ: E B, xã N, thành phố T, tỉnh Long An.
- - Bị đơn: Bà Trần Thị Thu T, sinh năm 1981. Địa chỉ: khu phố A, thị trấn T, huyện T, tỉnh Long An.
(Các đương sự có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và khởi kiện bổ sung, bản tự khai và tại phiên tòa nguyên đơn ông Trần Văn H trình bày: Do quen biết tự tìm hiểu nên ông Trần Văn H và bà Trần Thị Thu T tự nguyện xác lập quan hệ hôn nhân, được hai bên gia đình tổ chức đám cưới năm 1997, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N vào ngày 04/02/2002. Thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc. Đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân là vợ chồng thường xuyên cự cãi, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, từ đó mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được. Ông H và bà T đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Từ khi ly thân đến nay mạnh ai nấy sống, ông H bà T không còn quan tâm chăm sóc nhau. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên ông H kiên quyết yêu cầu ly hôn với bà T.
Quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Minh Thư s năm 1998 và Trần Gia H1 sinh năm 2002 đã trưởng thành; không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần.
Quan hệ tài sản chung: Ông xác định căn nhà là tài sản chung của vợ chồng còn Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 709, diện tích 105,8m², tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An là tài sản riêng của ông H, Tuy nhiên ông không khởi kiện tranh chấp tài sản riêng đối với Quyền sử dụng đất thửa 709 trong vụ án này. Trường hợp Tòa án xác định quyền sử dụng đất thửa 709 là tài sản chung của vợ chồng thì ông đồng ý chia đôi theo pháp luật, ông H xin được nhận giá trị nhà đất theo chứng thư thẩm định giá là 525.334.500đ, giao toàn bộ tài sản nhà đất cho bà T sử dụng. Quan hệ nợ chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông đồng ý với mảnh trích đo bản đồ địa chính và chứng thư thẩm định giá, ông không yêu cầu đo đạc định giá lại. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Bị đơn bà Trần Thị Thu T trình bày: Bà T thống nhất với phần trình bày của ông H về thời gian cưới, đăng ký kết hôn, con chung, nợ chung. Theo bà T mâu thuẫn vợ chồng phát sinh do bất đồng quan điểm trong cuộc sống nên cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, mâu thuẫn là do ông H không trách nhiệm với vợ con, cờ bạc gây nợ bà T phải gánh trả, có hành vi hành hung với bà T, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay bà T đồng ý ly hôn với ông H vì nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể chung sống cùng nhau được. Quan hệ con chung: Có 02 con chung tên Trần Thị Minh Thư s năm 1998 và Trần Gia H1 sinh năm 2002 đã trưởng thành. không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần. Quan hệ tài sản chung: Bà T xác định căn nhà và Quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 709, diện tích 105,8m², tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An, có giá trị là 1.050.669.000đ là tài sản chung của vợ chồng. Nay bà T có đơn phản tố đề nghị tòa án giải quyết theo quy định pháp luật, chia đôi tài sản. Bà T yêu cầu được nhận giá trị nhà đất theo chứng thư thẩm định giá là 525.334.500đ, giao toàn bộ tài sản nhà đất cho ông H quản lý sử dụng. Quan hệ nợ chung: bà T xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Bà đồng ý với mảnh trích đo bản đồ địa chính và chứng thư thẩm định giá, bà không yêu cầu đo đạc định giá lại. Ngoài ra không có ý kiến hay yêu cầu nào khác.
Tòa án tiến hành hòa giải đoàn tụ nhưng không thành. Các bên thống nhất ly hôn nhưng không tự phân chia tài sản chung, Tòa án đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và ý kiến. Bị đơn vẫn giữ nguyên đơn phản tố và ý kiến. Cả nguyên đơn và bị đơn đều không cung cấp thêm tài liệu chứng cứ nào khác để xem xét tại phiên tòa.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An phát biểu: Tòa án đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ tranh chấp và đúng tư cách các đương sự, việc giải quyết vụ án đúng thời hạn quy định. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán và những người tiến hành tố tụng đã tuân theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng quy định pháp luật. Về nội dung vụ án: Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được các bên thống nhất ly hôn nên ghi nhận. Về con chung: Đã trưởng thành; Tài sản chung: Đề nghị chia đôi tài sản chung gồm căn nhà và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 709, diện tích 105,8m², tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An, có giá trị là 1.050.669.000đ, giao nhà và đất cho ông H quản lý, sử dụng, buộc ông H trả lại cho bà T ½ giá trị nhà và đất.. Về nợ chung không có.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị Thu T có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Nay ông H yêu cầu ly hôn, bà T đang cư trú tại khu phố A, thị trấn T, huyện T, nên Tòa án nhân dân huyện Thủ Thừa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35 và Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Về yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H, Hội đồng xét xử xét thấy:
Về quan hệ vợ chồng: Trong thời gian chung sống ông bà đã xảy ra nhiều mâu thuẫn do không hợp tính tình. Từ mâu thuẫn nhỏ cả hai ông bà đều không tự sửa chữa khắc phục để dẫn đến hậu quả ông bà đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Nay ông H yêu cầu xin ly hôn bà T đồng ý nên Hội đồng xét xử ghi nhận là phù hợp Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Ông bà có 02 người con chung tên Trần Thị Minh Thư s năm 1998 và Trần Gia H1 sinh năm 2002 đều đã trưởng thành, không bị nhược điểm về thể chất và tinh thần nên không yêu cầu giải quyết là phù hợp.
Về tài sản chung:
Ông H xác định tài sản chung là căn nhà cất trên thửa đất 709, diện tích 105,8m², tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An, có giá trị là 240.135.000đ theo chứng thư thẩm định giá của công ty CP T1 và tư vấn Hồng Đ.
Bà T xác định tài sản chung gồm căn nhà và quyền sử dụng đất thuộc thửa đất 709, diện tích 105,8m², tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An, có giá trị là 1.050.669.000đ theo chứng thư thẩm định giá của công ty CP T1 và tư vấn Hồng Đ.
Xét yêu cầu phản tố của bà Trần Thị Thu T, HĐXX thấy rằng:
Căn cứ vào công văn số 547/UBND-NCTCD ngày 06/12/2024 của Ủy ban nhân dân thành phố T, tỉnh Long An thì thửa đất 709, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An được cấp cho hộ ông Trần Văn H vào ngày 23/12/2003 và được điều chỉnh thành ông Trần Văn H vào năm 2013. Ông Trần Văn H và bà Trần Thị Thu T xác lập quan hệ hôn nhân được Ủy ban nhân dân xã N cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 04/02/2002. Như vậy quyền sử dụng đất thửa 709 được tạo lập trong thời kỳ hôn nhân của ông H và bà T.
Ông H cho rằng thửa đất 709 ông được cha mẹ cho riêng ông nhưng ông H không cung cấp được tài liệu chứng minh như hợp đồng tặng cho riêng con ruột nên lời trình bày của ông H là không có cơ sở.
Bà T cho rằng quyền sử dụng đất thửa 709 được cha mẹ cho chung nên bà và ông H mới cất nhà để sinh sống là phù hợp.
Từ phân tích ở trên, HĐXX xác định quyền sử dụng đất thuộc thửa 709 có giá trị 810.534.000đ theo chứng thư thẩm định giá của công ty CP T1 và tư vấn Hồng Đ là tài sản chung của vợ chồng ông H và T. Nguồn gốc thửa đất được cho chung trong thời kỳ hôn nhân nên không ai có công sức đóng góp nhiều hơn ai. Nay bà T phản tố yêu cầu chia đôi quyền sử dụng đất là có cơ sở nên được chấp nhận.
Về tài sản gắn liền với thửa đất 709: gồm căn nhà cấp 4, có kết cấu móng cột đà bê tông cốt thép, tường xây gạch chưa tô, nền xi măng, mái tôn thiếc, xà gồ thép và các công trình phụ như mái che, nhà vệ sinh, trụ cổng, cửa cổng có tồng giá trị là 240.135.000đ; ông H và bà T xác định là tài sản chung của vợ chồng và thống nhất chia đôi nên HĐXX ghi nhận.
Xét thấy ông H là người đứng tên giấy chứng nhận QSDĐ thửa 709, thửa đất có nguồn gốc của cha mẹ ông H, đồng thời ông đang quản lý sử dụng căn nhà, hiện nay chưa có chỗ ở nào khác để ổn định cuộc sống, cả nhà và đất đều không đủ điều kiện để tách thửa nên giao toàn bộ căn nhà và quyền sử dụng đất thửa 709 cho ông H sở hữu và có trách nhiệm thối hồi ½ giá trị căn nhà và giá trị quyền sử dụng đất cho bà T là phù hợp.
Về nợ chung: Ông H và bà T xác định không có nợ chung.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản là 20.899.000đ: Ông H và bà T mỗi người phải chịu ½ chi phí. Bà T đã tạm nộp nên ông H phải hoàn trả cho bà T số tiền 10.449.500đ.
Về án phí: Ông H phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ông H, bà T còn phải chịu án phí dân sự đối với phần tài sản được chia theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 và Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, các Điều 35, 39, 147, 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 33, 38, 55, 59,62 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn H đối với bà Trần Thị Thu T
Về quan hệ hôn nhân: Ông Trần Văn H và bà Trần Thị Thu T thuận tình ly hôn.
Về tài sản chung:
- Ông Trần Văn H được quyền sở hữu căn nhà cấp 4 thuộc thửa đất 709, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An có giá trị là 240.135.000đ.
- Ông Trần Văn H được quyền sử dụng đất thửa đất 709, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp B, xã N, thành Phố T, tỉnh Long An có giá trị là 810.534.000đ.
- Ông Trần Văn H có nghĩa vụ thối hồi giá trị tài sản chung cho bà Trần Thị Thu T số tiền 525.334.500đ.
- Vị trí tứ cận đất được thể hiện theo mảnh trích đo bản đồ địa chính số 1796-2023 của Công ty Đ1 lập ngày 03/11/2023 được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tại thành phố T duyệt ngày 10/11/2023 và Mảnh trích đo bản đồ địa chính phân khu số 01-2023 của Công ty Đ1 ngày 03/11/2023.
- Về chi phí thẩm định, định giá: Buộc ông Trần Văn H phải hoàn trả cho bà Trần Thị Thu T 10.449.500đ.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (ngày 24/6/2024) cho đến khi thi hành án xong thì hàng tháng, ông Trần Văn H còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về án phí: Ông Trần Văn H phải chịu 150.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và 25.013.000đ án phí chia tài sản chung. Khấu trừ 300.000đ tạm ứng án phí ông H nộp theo biên lai thu số 0003947 ngày 26/5/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa sang án phí. Ông H còn phải nộp thêm 24.863.000đ. Bà Trần Thị Thu T chịu 25.013.000đ án phí dân sự sơ thẩm. Khấu trừ 1.400.000đ và 5.000.000đ và 6.107.000đ tiền tạm ứng án phí bà T nộp theo biên lai thu số 0001114 ngày 24/7/2023 và biên lai thu số 0001115, ngày 24/7/2023 và biên lai thu số 0008395 ngày 14/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thủ Thừa, tỉnh Long An sang án phí. Bà T còn phải nộp thêm 12.506.000đ án phí.
- Án xử sơ thẩm các đương sự có mặt tại phiên tòa không đồng ý thì có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 24/6/2024).
- Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phan Thanh Tuấn |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-HT ngày 24/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN về tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-HT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, chia tài sản chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦ THỪA, TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Văn H "Trang chấp về chia tài sản khi ly hôn" Trần Thị Thu T
