Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN LỤC NAM

TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 24-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Giáp Thị Loan

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hữu Thái

Ông Nguyễn Xuân Chung

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Sơn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên.

Ngày 24/6/2024 tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tòa án nhân dân huyện Lục Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 59/2024/TLST-HS ngày 24/5/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 13/6/2024 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Hà Văn H, sinh năm 1965. Tên gọi khác: Không. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn Q, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 07/12. Đảng, chính quyền, đoàn thể: Không. Bố đẻ: Hà Văn N; Mẹ đẻ: Hoàng Thị T (đều đã chết). Gia đình có 07 anh em ruột, bản thân bị cáo là thứ 05 trong gia đình. Vợ: Nguyễn Thị H1, sinh năm 1964. Bị cáo có 02 con, con lớn năm sinh 1986; con nhỏ sinh năm 1990. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang, bị tạm giữ từ ngày 03/03/2024 đến ngày 08/03/2024 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”. Hiện bị cáo đang tại ngoại (có mặt).

2. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

- Anh Bùi Quang T1, sinh năm 1991 (vắng mặt)

Địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

- Anh Nguyễn Văn T2, sinh năm 1990 (có mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố P, thị trấn P, huyện L, tỉnh Bắc Giang.

1

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Thực hiện kế hoạch công tác ngày 03/3/2024 của Đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L được lãnh đạo Công an huyện Lục Nam phê duyệt. Khoảng 12 giờ 35 phút ngày 03/3/2024, tổ công tác của đội Cảnh sát giao thông trật tự Công an huyện L gồm các đồng chí Nguyễn Văn Q, Tổ trưởng; các đồng chí Bùi Quang T1, Nguyễn Văn T2, Trịnh Phú Q1, Ngô Hồng T3, Nguyễn Văn H2, tổ viên thực hiện kế hoạch chuyên đề kiểm tra nồng độ cồn tại Km 6+150, đường T thuộc địa phận thôn Đ, xã B, huyện L. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, tổ công tác phát hiện Hà Văn H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98B1- 656.92 đang đi trên đường có dấu hiệu vi phạm về nồng độ cồn. Tổ công tác dừng xe mô tô của H để kiểm tra, đồng chí Nguyễn Văn T2 tiến hành thông báo và giải thích về quy trình kiểm tra nồng độ cồn và yêu cầu H thực hiện. Hữu chấp hành kiểm tra nồng độ cồn, kết quả kiểm tra trong hơi thở của H có nồng độ cồn. Tổ công tác yêu cầu H chấp hành kiểm tra lần thứ hai để xác định kết quả thì H không chấp hành và bỏ đi ra ngoài nghe điện thoại. Tổ công tác yêu cầu H quay lại để kiểm tra nồng độ cồn thì H nhảy xuống ruộng bên cạnh đường Tỉnh lộ 295 rồi dùng tay lấy bùn đất dưới ruộng ném vào đồng chí Nguyễn Văn T2 và đồng chí Bùi Quang T1 làm bẩn trang phục đang mặc của hai đồng chí, đồng thời Hữu chửi bới tổ công tác với mục đích để tổ công tác không tiến hành kiểm tra nồng độ cồn với H. Hữu không hợp tác, tổ công tác đã đưa H từ dưới ruộng lên trên đường T để làm việc thì H tiếp tục chống đối, giằng co làm rơi mũ kê pi, gậy nhựa, cấp hiệu, camera mini chuyên dụng gắn trên cấp hiệu của đồng chí Nguyễn Văn T2 và đồng chí Bùi Quang T1 xuống mương nước. Sau đó tổ công tác đã khống chế đưa H về trụ sở Công an xã B, huyện L để làm việc. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn trong hơi thở đối với H là: 0,420mg/l. Công an xã B đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang và bàn giao hồ sơ, tài liệu cho Cơ quan điều tra Công an huyện L để giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 01/4/2024, Cơ quan điều tra Công an huyện L đã thu giữ: 01 file video lưu giữ trong camera mini chuyên dụng thu giữ tại hiện trường (camera gắn trên cấp hiệu của đồng chí Nguyễn Văn T2 bị rơi xuống mương nước).

Về khám nghiệm hiện trường: Khám nghiệm hiện trường theo hướng xã B đi xã T, trái phải xác định theo hướng khám nghiệm. Hiện trường là đường Tỉnh lộ 295, lề đường đất bên phải, mương nước bên phải đường Tỉnh lộ 295 và ruộng nước của gia đình ông Nguyễn Văn H3, sinh năm 1958, thuộc địa phận thôn Đ, xã B, huyện L. Đường tỉnh 295 (hiện trường) thẳng, phẳng, trải nhựa rộng 7,1m; ở giữa

2

đường có vạch kẻ đường dạng nét đứt màu vàng. Đường chạy theo hướng Đ - T4, bên trái đường là lối vào khu vực đang xây dựng cửa hàng xăng dầu. Lề đường bến phải bằng đất, rộng 1,1m, bên phải của lề đất là sườn đường (bằng đất) rộng 1,4m dốc theo hướng từ trên xuống (trái - phải), bên phải của sườn đường là mương nước rộng 1,38m, mương có nước, mực nước trung bình là 0,2m. Bên phải của mương nước là bờ ruộng bằng đất rộng 0,5m và ruộng nước của gia đình ông Nguyễn Văn H3.

Các dấu vết, tài liệu, đồ vật phát hiện tại hiện trường: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen, mặt sau có tem màu trắng, ký hiệu: Model:CPH2349, bền ngoài có ốp vở nhựa màu nâu (ký hiệu 1). Diện trượt bụi, dập gẫy cây cỏ, lõm bùn (ký hiệu 2). 02 mũ kê pi; 02 gậy nhựa; 01 mũ cối; 01 máy ghi hình; 01 hàm Công an nhân dân (ký hiệu 3). Diện lõm bùn, 02 chiếc dép (ký hiệu 4), 01 xe mô tô BKS 98B1-656.92 (ký hiệu 5).

Lấy cột mốc số H2/6 làm mốc, lấy mép đường bên phải tỉnh lộ 295 làm mốc chuẩn. Mô tả các dấu vết, đồ vật như sau: Điện thoại di động OPPO (ký hiệu 1) nằm úp trên lề đường đất bên phải, cách mép chuẩn 0,5m; cách mốc 24m về phía T. Diện trượt bụi đất, dập gẫy cây cỏ, lõm bùn (ký hiệu 2) kích thước (2,8x1,4)m trên lề đường đất bên phải, sườn đường, dưới mương nước, chiều hướng từ lề đường đất bên phải xuống mương nước. Đầu vết trên lề đất cách mép chuẩn 0,5m, cách (1) là 0,1m về phía T. Cuối vết ở dưới mương nước, cách mép chuẩn là 3,3m. Trên diện trượt bụi đất, dập gẫy cây cỏ, lõm bùn (ký hiệu 2) có 02 mũ kêpi màu vàng, 02 gậy nhựa màu trắng - đen; 01 mũ cối màu xanh; 01 máy ghi hình (camera mini cài áo) màu đen, 01 hàm Công an nhân dân (Đại úy). Trong đó có 02 gậy nhựa, 01 mũ Kê pi số 57 ở trên sườn đường; 01 mũ Kê pi số 58; 01 mũ cối; 01 máy ghi hình; 01 hàm Công an nhân dân ở dưới mương nước. Diện lõm bùn và 02 chiếc dép nam màu nâu tại nền ruộng nước của gia đình ông Nguyễn Văn H3 (ký hiệu 4); kích thước (1,5x1,1) m; cách mép chuẩn 3,2 m; cách (1) là 3,5 m. Xe mô tô (ký hiệu 5) nhãn hiệu Honda, loại xe Wave RSX, BKS 98B1-656.92 đỗ trên mặt đường, đầu xe hướng xã T, đuôi xe hướng xã B. Trục trước trùng mép chuẩn, trục sau cách mép chuẩn 0,4m; cách (1) 13,7 m về phía xã T. Mở rộng hiện trường về phía xã T: Trên mặt đường (giữa đường) có 06 cọc tiêu hình chóp nón (có phản quang) màu đỏ đặt dọc theo vạch kẻ giữa đường, tổng dài 20,8 m. Cọc đầu tiên phía Bảo Sơn cách trục sau xe mô tô (5) 16,3 m về phía Đông Bắc có 02 cọc tiêu căng dây đỏ, 01 bàn làm việc bằng kim loại và 05 ghế nhựa màu đỏ của lực lượng CSGT để làm nhiệm vụ.

Quá trình khám nghiệm hiện trường đã thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu đen; 02 mũ kê pi; 01 mũ cối; 01 máy ghi hình; 01 hàm Công an

3

nhân dân; 02 gậy nhựa; 02 chiếc dép màu nâu; 01 xe mô tô BKS 98B1-656.92.

Cơ quan điều tra Công an huyện L trưng cầu Phòng K Công an tỉnh B giám định file video đã thu giữ. Tại Bản kết luận giám định số 788/KL-KTHS ngày 10/4/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên “03031334_0016.MP4" dung lượng: 60MB, thời lượng 02 phút 00 giây được lưu trữ trong đĩa CD-R gửi giám định; Trích xuất được 08 (tám) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.

Cơ quan điều tra Công an huyện L đã tiến hành cho Hà Văn H xem lại video thu giữ, kết quả Hà Văn H xác nhận người trong video có hành vi chống đối lực lượng làm nhiệm vụ chính là H. Tại Cơ quan điều tra, Hà Văn H đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu trên.

Bản cáo trạng số 62/CT-VKSYD ngày 22/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố bị cáo Hà Văn Hữu về tội “Chống người thi hành công vụ” theo khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà:

Bị cáo H trình bày: Bị cáo khai nhận hành vi vi phạm pháp luật vào ngày 03/3/2024, khi tổ công tác của Đội CSGT - Công an huyện L ra hiệu lệnh dừng xe mô tô do bị cáo điều khiển để kiểm tra nồng độ cồn theo quy định nhưng bị cáo không chấp hành, đã có lời lẽ chửi bới, giằng co, xô đẩy với các đồng chí CSGT đang làm nhiệm vụ, làm rơi mũ kê pi, máy ghi hình, hàm Công an nhân dân, gậy nhựa của người làm nhiệm vụ xuống mương nước. Mục đích chống người thi hành công vụ của bị cáo là để tổ công tác không tiến hành việc kiểm tra nồng độ cồn với bị cáo. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo về tội “Chống người thi hành công vụ” là đúng, không oan. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn T2 trình bày: Anh công tác tại Đội Công an huyện L. Thực hiện Kế hoạch công tác, ngày 03/3/2024 về tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm nồng độ cồn tại Km6+150 đường tỉnh lộ 295 thuộc thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tổ công tác gồm có Đồng chí Nguyễn Văn Q - Đội trưởng làm tổ Trưởng, anh và một số đồng chí khác làm thành viên. Anh được phân công nhiệm vụ: lập biên bản, dừng xe, kiểm soát, sử dụng máy đo nồng độ cồn. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, anh phát hiện và dừng xe mô tô BKS 98B1-656.92 do ông Hà Văn H đang điều khiển. Anh ra hiệu lệnh dừng xe để kiểm soát, ông H dừng phương tiện, xuống xe. Theo quy trình kiểm tra nồng độ cồn, trong suốt quá trình kiểm tra, từ thời điểm bắt đầu làm việc với

4

người được kiểm tra phải tiến hành ghi hình có âm thanh, anh đã tuân thủ đúng quy trình và bật camera mini đang gắn ở cầu vai để ghi hình quá trình kiểm tra nồng độ cồn đối với ông H. Khi sử dụng máy đo nồng độ cồn kiểm tra định tính thì thiết bị hiển thị kết quả “Phát hiện có cồn”. Anh đã thông báo cho ông H biết, hướng dẫn, yêu cầu ông tiếp tục kiểm tra lần thứ hai để xác định kết quả nồng độ cồn có trong hơi thở. Lúc này ông H có điện thoại đến, tự ý bỏ đi khỏi vị trí làm việc của tổ công tác khoảng 15m. Anh tiếp tục giải thích, yêu cầu ông H quay lại vị trí làm việc nhưng ông không chấp hành. Có đồng chí Bùi Quang T1 đi đến chỗ vị trí của anh hộ trợ mời ông H quay về chỗ làm việc nhưng ông H không chấp hành, có hành vi xô đẩy, giằng tay anh, rồi ông H từ trên mặt đường tỉnh lộ 295 nhảy qua mương nước sang bên cánh đồng thuộc thôn Đ, xã B. Sau đó ông H bốc bùn dưới ruộng ném vào người anh và đồng chí T1. Đồng thời có lời nói chửi bới, lăng mạ, xúc phạm tổ công tác. Sau đó, anh đi xuống mương nước kéo tay ông H để đưa lên mặt đường làm việc nhưng ông H không chấp hành, dùng tay phải túm cổ áo và đè tôi xuống mương nước, làm rơi camera mini đang cài trên cầu vai và làm bung, bật cầu vai bên trái của anh xuống mương nước. Khi thấy hành vi của ông H có dấu hiệu chống người thi hành công vụ, các đồng chí trong tổ công tác đã khống chế, đưa về trụ sở Công an xã Bảo Đài lập biên bản sự việc để giải quyết theo quy định. Về trách nhiệm dân sự: Anh không đề nghị ông H phải bồi thường.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Bùi Quang T1 trình bày (BL số 172-173): Anh là cán bộ thuộc Đội CSGT - Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang. Anh có lời khai thống nhất với anh T2 về việc thực hiện kế hoạch công tác và diễn biến sự việc xảy ra ngày 03/3/2024, khi thực hiện nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát, xử lý vi phạm nồng độ cồn tại Km6+150 đường T thuộc thôn Đ, xã B, huyện L. Khi đồng chí T2 đi xuống mương nước kéo tay ông H, để đưa lên mặt đường làm việc nhưng ông H không chấp hành, dùng tay phải túm vào cổ áo sơ mi trắng (là trang phục CAND được trang cấp) và đè đồng chí T2 xuống mương nước, làm rơi chiếc camera mini đang cài trên cầu vai của đồng chí T2 xuống mương nước. Khi phát hiện chiếc camera đã bị rơi, anh đã quay lại bàn làm việc để lấy camera cầm tay tiếp tục ghi hình sự việc. Sau đó tổ công tác thấy có dấu hiệu chống người thi hành công vụ, đã khống chế đưa ông H về trụ sở Công an xã B, tiến hành kiểm tra nồng độ cồn, kết quả 0,420mg/l. Về trách nhiệm dân sự: Anh không đề nghị ông H phải bồi thường.

Hội đồng xét xử công bố lời khai của những người tham gia tố tụng được triệu tập nhưng vắng mặt tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì.

5

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam sau khi phân tích, đánh giá các tình tiết, chứng cứ của vụ án vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • Về TNHS: Áp dụng khoản 1, Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Hà Văn H từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho UBND xã B, huyện L giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.
  • Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98B1- 656.92; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, có số IMEI 1: 864547054868414, IMEI 2: 864547054868406; 01 mũ cối; 02 chiếc dép màu nâu nhưng giữ lại để đảm bảo thi hành án.
  • Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu tiền án phí theo quy định.

Bị cáo H không có ý kiến tranh luận gì. Đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận, đồng ý quan điểm luận tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo xin được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Bùi Quang T1 được Tòa án tống đạt hợp lệ văn bản của Tòa án về thời gian mở phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa, có đơn đề nghị xét xử

6

vắng mặt. Xét thấy quá trình điều tra đã có lời khai của anh T1 nên việc vắng này không trở ngại cho việc xét xử. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh T1 theo quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra. Căn cứ lời khai của bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa có đủ cơ sở kết luận:

Khoảng 13 giờ 30 phút ngày 03/3/2024, tại Km 6+150, đường T thuộc địa phận thôn Đ, xã B, huyện L, tổ công tác của đội Cảnh sát giao thông Công an huyện L dừng xe mô tô của Hà Văn H để kiểm tra nồng độ cồn theo quy định nhưng H không chấp hành, đã nhảy xuống dưới ruộng bên đường lấy bùn đất ném vào đồng chí Nguyễn Văn T2 và Bùi Quang T1. Đồng thời Hữu chửi bới, giằng co, xô đẩy với các đồng chí đang làm nhiệm vụ làm rơi mũ kê pi, máy ghi hình, hàm Công an nhân dân, gậy nhựa của đồng chí Nguyễn Văn T2 và Bùi Quang T1 xuống mương nước. Mục đích chống người thi hành công vụ của Hà Văn H là để tổ công tác không tiến hành việc kiểm tra nồng độ cồn đối với H.

Hành vi của bị cáo nêu trên thể hiện ý thức chủ quan và hành vi khách quan nhằm ngăn cản, chống lại tổ công tác. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi phạm tội của bị cáo trực tiếp xâm phạm đến việc thực hiện nhiệm vụ của những người đang thi hành công vụ và thông qua đó xâm phạm đến hoạt động của Nhà nước về quản lý hành chính trong lĩnh vực thi hành nhiệm vụ công vụ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội.

Hành vi đó đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ” theo quy định tại khoản 1 Điều 330 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố bị cáo theo khoản, Điều luật trên là có căn cứ.

[4] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội:

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến hoạt động bình thường, đúng đắn, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính của người thi hành công vụ nói riêng, của cơ quan nhà nước nói chung, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương. Bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng do coi thường kỷ cương pháp luật của Nhà nước nên đã cố ý phạm tội. Do vậy, cần phải xử lý nghiêm đối với bị cáo bằng pháp luật hình sự để đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật.

Trong thời gian qua, nhiều vụ việc chống người thi hành công vụ đã xảy ra,

7

nguyên nhân do nhiều yếu tố nhưng một phần là do ý thức, nhận thức pháp luật của người dân còn hạn chế. Việc tham gia giao thông phải đảm bảo an toàn, tuân thủ đúng quy định, không sử dụng rượu, bia, đồ uống có cồn, chất kích thích... khi tham gia giao thông. Khi có sự tuần tra, kiểm soát của lực lượng chức năng, người tham gia giao thông phải chấp hành theo quy định, nếu có hành vi chống đối, gây cản trở đối với người đang thi hành nhiệm vụ, công vụ là vi phạm pháp luật, cần phải xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật.

[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có thời gian tham gia quân ngũ. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự để Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

[7] Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự.

[8] Xét tính chất, mức độ, hậu quả thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, trên cơ sở xem xét đầy đủ các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo thấy:

Căn cứ tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra là hành vi nguy hiểm cho xã hội, cần thiết phải có mức án nghiêm minh để răn đe, giáo dục đối với bị cáo. Tuy nhiên, xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Do vậy, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù giam mà chỉ cần áp dụng hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự như đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam cũng đảm bảo giáo dục, răn đe bị cáo. Đồng thời tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo trở thành công dân tốt, người có ích cho xã hội.

[9] Về trách nhiệm dân sự: Đồng chí Nguyễn Văn T2, Bùi Quang T1 không đề nghị bị cáo bồi thường gì nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.

[10] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98B1- 656.92; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, có số IMEI 1: 864547054868414, IMEI 2: 864547054868406; 01 mũ cối; 02 chiếc dép màu nâu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

[11] Các vấn đề khác:

  • Đối với việc Hà Văn H điều khiển xe mô tô khi hơi thở có nồng độ cồn, ngày

8

04/5/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử lý vi phạm hành chính Hà Văn H đối với hành vi trên là đúng quy định pháp luật.

  • Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả 01 camera ghi hình; 02 mũ kêpi; 01 hàm Công an nhân dân; 02 gậy nhựa cho anh Nguyễn Văn T2 và anh Bùi Quang T1 là phù hợp quy định pháp luật.

[12] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Hà Văn H 01 (Một) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ” nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 24/6/2024.

Giao bị cáo Hà Văn H cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 BLTTHS: Trả lại bị cáo Hà Văn H 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave biển kiểm soát 98B1- 656.92; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, có số IMEI 1: 864547054868414, IMEI 2: 864547054868406; 01 mũ cối; 02 chiếc dép màu nâu nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Hà Văn H phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

9

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Lục Nam;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện Lục Nam;
  • - Cơ quan điều tra Công an huyện Lục Nam;
  • - VKSND, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - TAND tỉnh Bắc Giang;
  • - UBND xã Bảo Đài, huyện Lục Nam;
  • - Chi cục THADS huyện Lục Nam;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HSVA, VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Giáp Thị Loan

10

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hữu Thái Nguyễn Xuân Chung

Giáp Thị Loan

11

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 24/06/2024 của Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang về hình sự (chống người thi hành công vụ)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Chống người thi hành công vụ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hà Văn H - chống người thi hành công vụ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger