Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 24-4-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Hiếu

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thu Thủy;
  2. Bà Huỳnh Thị Quỳnh Hoa.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Trúc Quỳnh - Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lê Cao Hưng - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 62/2024/HSST ngày 28 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2024, đối với bị cáo:

1. NGUYỄN VĂN X - sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: không đăng ký nơi thường trú; nơi cư trú: không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Văn M, đã chết; con bà: Nguyễn Thị Đ, đã chết; vợ/con: Chưa có;

Tiền án:

  • Ngày 05/8/2005, Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 09 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 120/2005/HSPT, chấp hành xong án phạt tù ngày 08/01/2006, đã nộp án phí tháng 10/2005;
  • Ngày 25/8/2006, Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 02 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 477/2006/HSPT, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/8/2008, xác minh Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp chưa thụ lý bản án này (BL73);
  • Ngày 11/6/2009, Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm tù, về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, theo Bản án số 136/2009/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 18/11/2011, đã hoàn thành xong nghĩa vụ nộp án phí tháng 7/2013 (BL211);
  • Ngày 20/9/2012, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 03 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 326/2012/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 19/8/2015, xác minh Chi cục thi hành án dân sự quận Bình Tân, Nguyễn Văn X1 chưa thi hành các khoản án phí và trách nhiệm bồi thường dân sự (BL97);
  • Ngày 12/9/2018, Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 04 năm 06 tháng tù, về tội “Trộm cắp tài sản”, theo Bản án số 136/2018/HSST, chấp hành xong án phạt tù ngày 31/5/2022, đã thực hiện xong nghĩa vụ đóng án phí ngày 14/8/2019 (BL103).

Tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến nay.

2. TRẦN HOÀNG T - sinh năm 1999 tại Thành phố Hồ Chí Minh; nơi đăng ký thường trú: C ấp N, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; nơi cư trú: : Không có nơi cư trú nhất định; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trương Hoàng S, sinh năm: 1978.; con bà: Trần Thị Ngọc C, sinh năm: 1978; vợ/con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 01/12/2023 đến nay.

(Các bị cáo có mặt tại phiên tòa).

Bị hại: Chị Lê Thảo N, sinh năm 2005; Địa chỉ: D L, Phường A, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Giữa tháng 11/2023, Trần Hoàng T gặp Nguyễn Văn X1 tại quán cà phê gần ngã tư B, xã T, huyện C. Qua nói chuyện T biết X1 có nhiều tiền án về tội trộm cắp sản nên T đã rủ X1 đi trộm cắp tài sản để bán lấy tiền chia nhau tiêu xài, X1 đồng ý. Sau đó, T lên mạng xã hội Facebook tìm mua một đầu đoản dài khoảng 07cm và một khoá chữ “L” để gắn đoản dùng để bẻ khoá xe gắn máy với giá 500.000 đồng; còn X1 lên mạng xã hội Facebook đặt làm một biển số xe 59D1- 891.68 với giá 300.000 đồng để khi trộm được xe sẽ gắn vào tránh bị phát hiện, đồng thời mua một xe gắn máy hiệu Jupiter màu đỏ không rõ biển số, không có giấy tờ của một đối tượng (không rõ lại lịch) ở gần Bến xe A với giá 4.000.000 đồng làm phương tiện đi trộm cắp tài sản.

Khoảng 20 giờ ngày 22/11/2023, X1 điều khiển xe gắn máy hiệu Jupiter màu đỏ nêu trên chở T ngồi sau, đi từ huyện C đến quận T tìm ai có xe gắn máy sơ hở để trộm cắp. Khi đi đến trước địa chỉ số D L, Phường A, quận T, T nhìn thấy xe gắn máy hiệu Vario màu đen biển số 59C3-145.16 của chị Lê Thảo N đang dựng phía trước không có người trông coi. Xinh dừng xe lại đứng cảnh giới nếu có người phát hiện thì chở T tẩu thoát, còn T đi bộ đến lấy trộm xe Vario của chị N dẫn lại chỗ X1 để X1 điều khiển xe Jupiter dùng chân đẩy xe Vario do T điều khiển đến khu công nghiệp T, xã T, huyện C. Tại đây, X1 tháo biển số 59C3145.16 của xe gắn máy hiệu Vario ra và lấy biển số 59D1-891.68 ra lắp vào xe gắn máy hiệu Vario đã trộm cắp được, khi đến cầu A, T ném biển số 59C3145.16 xuống sông để không bị phát hiện (không thu hồi được). Sau đó cả 02 mang xe về nhà chị Y Xa P (bạn gái X1) tại địa chỉ: B, ấp B, xã T, huyện C gửi xe máy Vario lại và nói với chị P là xe bị hư. X1 chở T về lại ngã tư B thuộc xã T, rồi điều khiển xe Jupiter quay về nhà chị P ngủ. Đến sáng ngày 23/11/2023, X1 thấy xe V còn mới nên gọi điện cho T nói sẽ giữ lại xe Vario này để làm phương tiện đi lại và đưa cho T số tiền 2.500.000 đồng, T đồng ý. Khoảng 9 giờ cùng ngày, X1 đem xe Vario đến cửa hàng mua bán xe gắn máy “Sang Trọng” ở thị trấn C, huyện C nói làm mất remode để làm lại remode mới (khoá xe điện tử) với giá 1.300.000 đồng. Cùng ngày, X1 điều xe Jupite (là phương tiện gây án) đến khu vực cầu T bán cho 01 người đàn ông (không rõ lai lịch) với giá 4.500.000 đồng, X1 về đưa cho T 2.500.000 đồng và lấy xe Vario vừa trộm cắp sử dụng.

Ngày 28/11/2023, T tiếp tục gọi điện rủ X1 đi trộm cắp, khi cả 02 đang đi trên đường D thì bị Công an huyện H phát hiện bắt giữ giao cho Công an quận T xử lý theo thẩm quyền. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận T cả 02 đều thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của 02 bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và hình ảnh trích xuất camera khu vực hiện trường.

Kết luận định giá tài sản số 10/KL-HĐĐGTS ngày 21/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận T, kết luận: Chiếc xe mô tô hiệu Vario màu đen biển số 59C3-145.16 của chị Lê Thảo N trị giá từ 26.000.000 đồng.

Vật chứng:

  • 01 (một) xe mô tô hiệu Vario, số máy: KF41E1760851, số khung: MH1KF4118KK758160, đã trả lại cho bị hại Lê Thảo N (BL202);
  • 01 biển số 59D1-891.68 qua xác minh là xe do chị Phan Thoại Q (địa chỉ 419 chung cư N, phường P, quận T) đang sử dụng không bị mất;

Thu giữ của Nguyễn Văn X1:

  • 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO A7 màu xanh (X1 dùng để liên lạc với T đi thực hiện tội phạm), 01 áo thun ngắn tay màu xanh có chữ OMEGA, 01 quần jeen dài màu xám;

Thu giữ của Trần Hoàng T:

  • 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia mododel: TA-1203 (T dùng để liên lạc với X1 đi thực hiện tội phạm); 01 đầu đoản dài khoảng 7,5cm; 01 khóa chữ L gắn đầu đoản dài khoảng 15,5cm, 01 áo sơ mi dài tay có họa tiết hoa văn hình bông hoa có chữ O.P.I.3XL ở cổ áo và 01 quần jeen dài màu đen.

- Về phần dân sự: Chị Lê Thảo N đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Tại Bản cáo trạng số 70/CT-VKS.TB ngày 25 tháng 03 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn X1 về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và bị cáo Trần Hoàng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

  • Đại diện Viện kiểm sát trong phần luận tội đã tóm tắt lại hành vi phạm tội của bị cáo, nêu ra các nguyên nhân, điều kiện phạm tội, nêu rõ tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ đối với bị cáo và đề nghị xử phạt bị cáo X1 từ 05 năm đến 06 năm tù, xử phạt bị cáo T từ 01 năm đến 02 năm tù.
  • Về vật chứng đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
  • Các bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu, không tranh luận gì, chỉ xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ mức án dành cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Trong quá trình điều tra, truy tố các bị cáo Nguyễn Văn X1 và Trần Hoàng T, Điều tra viên Cơ quan cảnh sát Điều tra Công an quận T, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình được phân công điều tra giải quyết vụ án đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Căn cứ diễn biến tại phiên tòa, thông qua phần xét hỏi, tranh luận nhận thấy lời khai, chứng cứ phạm tội phù hợp với tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án; bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Điều tra viên, Kiểm sát viên, do đó các hành vi, quyết định tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều phù hợp với quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội: Xét thấy lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, Bản kết luận điều tra của Cơ quan cảnh sát điều tra, Bản cáo trạng của Viện kiểm sát, lời khai của người làm chứng cùng tang vật, các tài liệu chứng cứ khác thu được trong hồ sơ vụ án.

Hội đồng xét xử xét thấy đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn X1 và Trần Hoàng T đã có hành vi trộm cắp chiếc xe mô tô hiệu Vario màu đen biển số 59C3-145.16 của chị Lê Thảo N, trị giá 26.000.000 đồng. Đối với hành vi của bị cáo X1, bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản với tình tiết "Tái phạm", chưa được xóa án tích mà lại tiếp tục phạm tội, lần phạm tội này của bị cáo được xác định là “Tái phạm nguy hiểm” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Đối với hành vi của bị cáo T thì phạm tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi Trộm cắp tài sản của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác, mà còn ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Các bị cáo đã thành niên, đủ khả năng nhận thức và biết rõ tác hại của việc trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật và sẽ bị trừng trị, nhưng chỉ vì bản chất lười lao động, tham lợi mà các bị cáo đã bất chấp, xem thường pháp luật và lợi ích của cộng đồng. Vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo khỏi xã hội trong một thời gian nhằm mục đích cải tạo, giáo dục các bị cáo đồng thời có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xem xét tình tiết các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo T được xem xét tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, theo quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[4] Về vật chứng vụ án:

  • Đối với 01 (một) xe mô tô bị mất trộm hiệu Vario, số máy: KF41E1760851, số khung: MH1KF4118KK758160, cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Lê Thảo N là phù hợp với quy định của pháp luật;
  • Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO A7 màu xanh (X1 dùng để liên lạc với T đi thực hiện tội phạm) và 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia mododel: TA-1203 (T dùng để liên lạc với X1 đi thực hiện tội phạm). Xét thấy đây là các vật có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu và nộp ngân sách nhà nước.
  • Đối với 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh có chữ OMEGA, 01 quần jeen dài màu xám, xét thấy đây là các vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) đầu đoản dài khoảng 7,5cm; 01 khóa chữ L gắn đầu đoản dài khoảng 15,5cm, xét thấy đây là các vật có liên quan đến việc phạm tội nên tịch thu và tiêu hủy.
  • Đối với 01 (một) áo sơ mi dài tay có họa tiết hoa văn hình bông hoa có chữ O.P.I.3XL ở cổ áo và 01 quần jeen dài màu đen, xét thấy đây là các vật không có giá trị nên tịch thu và tiêu hủy.

[5] Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 106, Điều 135 và Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ Luật phí và lệ phí năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn X1 và Trần Hoàng Trọng phạm t “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Nguyễn Văn X 05 (năm) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2023.

- Áp dụng Điều 38; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

Xử phạt bị cáo: Trần Hoàng T 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 01/12/2023.

[2] Về vật chứng:

Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) ĐTDĐ hiệu OPPO A7 màu xanh; 01 (một) ĐTDĐ hiệu Nokia model: TA-1203;

Tịch thu, tiêu hủy: 01 (một) áo thun ngắn tay màu xanh có chữ OMEGA, 01 quần jeen dài màu xám; 01 (một) đầu đoản dài khoảng 7,5cm; 01 khóa chữ L gắn đầu đoản dài khoảng 15,5cm; 01 (một) áo sơ mi dài tay có họa tiết hoa văn hình bông hoa có chữ O.P.I.3XL ở cổ áo và 01 quần jeen dài màu đen.

(Tình trạng theo Phiếu nhập kho vật chứng số 70/PNK ngày 02/4/2024).

[3] Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

[4] Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án, các bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo, bị hại;
  • - Công an quận Tân Bình;
  • - VKSND quận Tân Bình;
  • - Chi cục THADS quận Tân Bình;
  • - TAND, VKSND Tp. Hồ Chí Minh;
  • - Phòng HSNVCS CA Tp. HCM;
  • - Sở Tư pháp TP. Hồ Chí Minh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Vũ Văn Hiếu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm về tội trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm tội
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger