TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày 23 - 9 - 2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Ánh .
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thế Bình - Cán bộ nghỉ hưu;
Ông Lưu Xuân Tiến - Hiệu trưởng Trường THCS Nam Cường
- Thư ký phiên tòa: Ông Đoàn Minh Toàn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Nam Trực.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 60/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
- * Họ và tên: Vũ Tiến D, sinh ngày 10/11/2007; nơi thường trú: Thôn Â, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn H, sinh năm 1980; con Trần Thị P, sinh năm 1979; gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo ra đầu thú ngày 11/7/2024, bị tạm giữ từ ngày 11/7/2024 đến ngày 14/7/2024 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.
- * Người đại diện theo pháp luật của bị cáo: Ông Vũ Văn H, sinh năm 1980; địa chỉ: Xóm Â, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định (bố đẻ bị cáo).
- * Người bào chữa cho bị cáo: Bà Trần Thị B – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N.
- * Bị hại: Chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm A+2, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định
- * Người làm chứng: Anh Đoàn Văn V, sinh năm 2004; địa chỉ: TDP số F, thị trấn N, huyện N, tỉnh Nam Định.
Tại phiên tòa bị cáo, ông H, bà B có mặt; chị H1 và anh V vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 09/7/2024 bị cáo Vũ Tiến D cùng anh Đoàn Văn V, đi xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha biển số 18K1-425.52 xuống nhà chị Nguyễn Thị H1 để chơi với cháu Vũ Gia B1, sinh năm 2009 (con trai chị H1). Khi đến nơi D đi vào trong nhà còn V đứng ngoài sân, trong nhà chỉ có 02 con của chị H1 đang ngủ. D nhìn thấy trong tủ kính đặt ở giữa nhà bên trong tủ có để tiền, D nảy sinh ý định trộm cắp. D đến tủ kính đưa tay vào trong lấy tiền, thấy D lấy tiền Vụ nói “Mẹ thằng Bảo kìa, cất vào”. D nhìn lại trên giường thì không phải chị H1 nên cầm tiền và ra khỏi nhà, khi đi cách nhà chị H1 khoảng 700 mét D và V dừng lại đếm số tiền D vừa lấy trộm là 61.000 đồng, gồm các mệnh giá là 03 tờ 10.000 đồng, 01 tờ 20.000 đồng, 01 tờ 5.000 đồng, 02 tờ 2.000 đồng và 02 tờ 1.000 đồng. Sau đó D đưa cho V cầm số tiền trên và bảo V đứng chờ (D không nói mình đi đâu), D đi xe mô tô quay lại nhà chị H1. Khi vào trong nhà thấy 02 con của chị H1 vẫn đang ngủ. D nhìn thấy có con lợn đất màu vàng để trong tủ kính ở phòng khách liền mở cánh cửa tủ rồi lấy con lợn đất mang ra bên cạnh nhà đập vào tường, mục đích để lợn vỡ sau đó nhặt số tiền từ trong con lợn đất cất dấu vào túi quần với tổng số tiền là 2.530.000 đồng, có các mệnh giá gồm: 03 tờ 500.000 đồng, 02 tờ 200.000, 02 tờ 100.000 đồng còn lại các tờ 20.000 đồng và 10.000 đồng. D cất 2.030.000 đồng tiêu xài riêng. Khi quay ra đến chỗ Vụ đang đứng đợi, D đưa 500.000 đồng. Tổng số tiền D lấy trộm nhà chị H1 là 2.591.000 đồng. D và Vụ tiêu xài chung hết 561.000 đồng.
Ngày 11/7/2024, chị Nguyễn Thị H1 làm đơn tố cáo về việc bị mất trộm tài sản đến Cơ quan điều tra Công an huyện N và cùng ngày 11/7/2024, Vũ Tiến D ra đầu thú tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N những vật chứng sau: 03 mảnh vỡ bằng thạch cao một mặt màu vàng, một mặt màu trắng lần lượt có kích thước là (25x17)cm, (20x16)cm, (14x14)cm thu tại hông nhà chị H1; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anphal màu trắng đen biển số 18K1-425.52 thu của Đoàn Văn V; 01 đôi dép lê màu đỏ; 03 áo phông cộc tay màu đen; 03 chiếc quần đùi thu của Vũ Tiễn D1.
Quá trình giải quyết vụ án D1 đã tác động gia đình cùng Đoàn Văn V bồi thường số tiền đã trộm cắp của chị Nguyễn Thị H1. Chị H1 đã nhận đủ số tiền 2.591.000 đồng và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Anphal màu trắng đen biển số 18K1-425.52. Quá trình điều tra xác định chủ sở hữu là anh Đoàn Văn V1, sinh năm 1996, trú tại tổ dân phố số F, thị trấn N, huyện N là anh trai Đoàn Văn V. Anh V1 không biết D1 và V sử dụng xe làm phương tiện để vi phạm pháp luật nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N đã trả lại cho anh Đoàn Văn V1.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra D1 đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số: 65/CT-VKS ngày 29 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, tỉnh Nam Định truy tố bị cáo Vũ Tiến D về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên;
Người bào chữa cho bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị cáo đều trình bày: Bị cáo phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi, nhận thức pháp luật hạn chế, có hoàn cảnh éo le, mẹ đã ly hôn, bị cáo ở với bố, bố đi làm xa không thường xuyên ở nhà, bản thân nghỉ học sớm tự đi làm kiếm sống, nhất thời phạm tội, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật nên đã ra đầu thú. Hơn nữa gia đình nhận thấy cũng có lỗi không quan tâm sát sao đối với con, đã tạo điều kiện khắc phục hậu quả cho bị hại. Do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội cải tạo, rèn luyện trở thành người công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65; Điều 91, Điều 101 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Vũ Tiến D từ 06 tháng đến 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 tháng đến 18 tháng;
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xem xét;
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 03 mảnh vỡ bằng thạch cao một mặt màu vàng, một mặt màu trắng lần lượt có kích thước là (25x17)cm, (20x16)cm, (14x14)cm. Trả lại cho bị cáo 01 đôi dép lê màu đỏ; 03 áo phông cộc tay màu đen; 03 chiếc quần đùi thu giữ của bị cáo.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326 năm 2016 của UBTV Quốc Hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và người đại diện theo pháp luật của bị cáo không có tranh luận gì với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo tuổi đời còn nhỏ, nhận thức pháp luật hạn chế, nhất thời phạm tội, bị cáo rất hối hận về hành vi phạm tội của bản thân, xin Hội đồng xét xử xem xét, khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện N, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Trực, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, người bào chữa cho bị cáo và bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Xét về hành vi của bị cáo thấy rằng: Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, có đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 7 giờ 30 phút ngày 09/7/2024, tại nhà chị Nguyễn Thị H1 ở xóm A+2, xã N, huyện N, tỉnh Nam Định. Bị cáo Vũ Tiến D có hành vi lén lút chiếm đoạt số tiền 2.591.000 đồng của chị H1. Do vậy hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- [3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an tại địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
- [4] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, gia đình bị cáo bồi thường khắc phục hậu quả. Bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- [5] Về hình phạt: Căn cứ hành vi phạm tội, tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo; Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đề nghị HĐXX áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 06 tháng đến 09 tháng nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách gấp đôi. Tuy nhiên bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi (16 tuổi 07 tháng, 29 ngày), nhận thức pháp luật còn hạn chế; để bảo đảm lợi ích tốt nhất của người chưa thành niên phạm tội, nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội, do vậy không cần thiết áp dụng hình phạt tù, mà chỉ cần cần áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ theo quy định tại Điều 36; khoản 1 Điều 91; Điều 100 Bộ luật hình sự là phù hợp, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
- [6] Đối với anh Đoàn Văn V, quá trình điều tra xác định V không biết số tiền 500.000 đồng D đưa cho V cầm chi tiêu cá nhân là do D có hành vi phạm tội mà có, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện N không có căn cứ để xử lý Vụ về hành vi “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” là phù hợp.
- [7] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm khoản tiền nào khác, nên HĐXX không đặt ra xem xét.
- [8] Về xử lý vật chứng: Đối với 03 mảnh vỡ bằng thạch cao một mặt màu vàng, một mặt màu trắng lần lượt có kích thước là (25x17)cm, (20x16)cm, (14x14)cm thu tại nhà chị H1 không còn gía trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 đôi dép lê màu đỏ; 03 áo phông cộc tay màu đen; 03 chiếc quần đùi thu giữ của bị cáo, quá trình điều tra xác định bị cáo dùng tiền do trộm cắp mua để sử dụng, tuy nhiên gia đình bị cáo đã khắc phục, trả lại toàn bộ số tiền cho bị hại; do vậy cần trả lại cho bị cáo theo quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- [9] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người bào chữa cho bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị cáo, và bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36; Điều 91; Điều 100 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Vũ Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Vũ Tiến D 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ được khấu trừ đi 09 ngày (bị cáo đã bị tạm giữ 03 ngày trước khi xét xử sơ thẩm quy đổi bằng 09 ngày cải tạo không giam giữ). Bị cáo D còn phải chấp hành 11 tháng 21 ngày cải tạo không giam giữ, thời gian tính từ ngày Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định nhận được Quyết định thi hành án.
Giao bị cáo Vũ Tiến D cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ.
- Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đang được áp dụng đối với bị cáo.
- Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự: Tuyên tịch thu tiêu hủy 03 mảnh vỡ bằng thạch cao một mặt màu vàng, một mặt màu trắng lần lượt có kích thước là (25x17)cm, (20x16)cm, (14x14)cm thu tại nhà chị H1;
Trả lại cho bị cáo: 01 đôi dép lê màu đỏ; 03 áo phông cộc tay màu đen; 03 chiếc quần đùi thu giữ của bị cáo.
(Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 30/8/2024 giữa cơ quan Công an huyện N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Trực)
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo và người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Ánh |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 23/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM TRỰC TỈNH NAM ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Vũ Tiến D phạm tội “Trộm cắp tài sản”
