|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ TỈNH HẬU GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HNGĐ - ST
Ngày: 23 - 08 - 2024
V/v Tranh chấp ly hôn, nợ chung
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Huỳnh Minh Chánh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trịnh Thị Trúc Linh.
- Bà Lê Thị Diễm Thi.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Trang là Thư ký Toà án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Mỹ Diện - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 08 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 77/2024 TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 05 năm 2024 về “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – ly hôn, con chung và nợ chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 158/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 03 tháng 07 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 144/2024/QÐST- HNGĐ ngày 30 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Diễm T, sinh năm 1995. (Có mặt)
- Bị đơn: Anh Trần Thanh T1, sinh năm 1993. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng C.
Địa chỉ cư trú: Khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã L, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ cư trú: Khu vực B, phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
Địa chỉ: CC5, Bán đảo L, phường H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Quyết T2, Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo uỷ quyền: Bà Nguyễn Nhựt Y, Chức vụ: Giám đốc Phòng Giao dịch Ngân hàng chính sách xã hội thị xã L. (Có đơn xin xét xử vắng mặt).
Địa chỉ cư trú: Khu vực Bình Thạnh B, phường B, thị xã L, tỉnh Hậu Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Lê Thị Diễm T (gọi tắt chị T) trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị T và anh Trần Thanh T1 quen biết với nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2015 tại Ủy ban nhân phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Khi anh T1 cưới chị T về thì vợ, chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 08 năm, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, anh T1 không quan tâm vợ, con. Hiện tại tình cảm của chị T với anh T1 không còn nên cuộc sống chung không hạnh phúc chị T và anh T1 ly thân với nhau từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, nên chị T quyết định ly hôn với anh T1.
Về con chung: Có 02 con chung tên:
- Trần Lê Mỹ T3 (Giới tính: Nữ) sinh ngày 18/2/2016.
- Trần Đăng K (Giới tính: Nam) sinh ngày 23/9/2020.
Hiện nay cháu Mỹ T3 và Đăng K đang chung sống với chị T.
Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Có, nợ Ngân hàng C chi nhánh thị xã L số tiền gốc là 46.000.000 đồng và lãi phát sinh.
Tại phiên tòa chị T vẫn giữ nguyên nội dung yêu cầu khởi kiện.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Trần Thanh T1 đã được Toà án thông báo về việc thụ lý vụ án đối với yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Diễm T và được Toà án đã triệu tập hợp lệ anh T1 để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do nên Toà án không thể tiến hành ghi lời khai cũng như tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải đối với bị đơn Trần Thanh T1.
Trong quá trình giải quyết vụ án người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan yêu cầu độc lập bà Nguyễn Nhựt Y đại diện Ngân hàng C, phòng Giao dịch thị xã L có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và cung cấp bản tự khai: Vào ngày 06/8/2019 Ngân hàng có cho chị Lê Thị Diễm T và người thừa kế là anh Trần Thanh T1 vay số tiền 20.000.000 đồng, dư nợ hiện tại 11.800.000 đồng theo chương trình cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường, lãi suất 9%/năm, thời hạn cho vay là 60 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 06/8/2024. Sau đó, đến ngày 20/9/2020 Ngân hàng có cho chị Lê Thị Diễm T và người thừa kế là anh Trần Thanh T1 vay thêm số tiền 30.000.000 đồng theo chương trình cho vay hộ mới thoát nghèo, lãi suất 8,25%/năm, thời hạn cho vay là 60 tháng, thời hạn trả nợ cuối cùng ngày 06/9/2025. Từ khi vay đến nay chị T thanh toán lãi hàng tháng và gửi tiết kiệm đầy đủ.
Bà Y yêu cầu: Do chị T và người thừa kế anh T1 đã có đơn xin ly hôn, ảnh hưởng quyền lợi của Ngân hàng nên Ngân hàng yêu cầu Toà án buộc chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 phải trả cho ngân hàng là 41.800.000 đồng và lãi phát sinh đến khi xét xử sơ thẩm.
Tại phiên toà hôm nay, bà Nguyễn Nhựt Y có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và cung cấp bản kê số tiền chị Lê Thị Diễm T hiện còn nợ tạm tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 30.115.283 đồng (Trong đó tiền gốc: 30.000.000 đồng; lãi trong hạn 115.283 đồng). Ngoài ra chị T và anh T1 còn chịu lãi phát sinh do chậm thực hiện nghĩa trả nợ cho Ngân hàng đến khi thanh toán tất nợ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Long Mỹ trình bày quan điểm:
Về thủ tục tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, các đương sự đã chấp hành đúng trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn Trần Thanh T1 chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị T, cho chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 được ly hôn.
-Về con chung: Chị Lê Thị Diễm T được tiếp tục nuôi 02 con chung tên Trần Lê Mỹ T4 (Giới tính: Nữ) sinh ngày 18/02/2016 và Trần Đăng K (Giới tính: Nam) sinh ngày 23/9/2020. Anh T1 chưa phải cấp dưỡng nuôi con do chị T chưa yêu cầu nên không xem xét.
Anh Trần Thanh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung: Chị Lê Thị Diễm T khai không có nên không xem xét.
- Về nợ chung: Buộc chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C phòng Giao dịch thị xã L, tỉnh Hậu Giang số tiền tạm tính đến ngày 23/8/2024 tổng cộng là 30.115.283 đồng.
- Về án phí đương sự phải nộp theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng:
Các đương sự tranh chấp với nhau về việc ly hôn. Xác định đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình - ly hôn và nợ chung”. Căn cứ Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang.
Bị đơn anh Trần Thanh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ để tiến hành phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên toà xét xử nhiều lần nhưng cố tình vắng mặt không có lý do. Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có cung cấp lời khai và có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt. Căn cứ vào quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng vẫn đảm bảo quyền và nghĩa vụ theo quy định.
Về nội dung vụ án:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 tự nguyện kết hôn vào năm 2015, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang theo quy định pháp luật nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống chị T và anh T1 phát sinh nhiều mâu thuẫn. Chị T cho rằng mâu thuẫn giữa chị và anh T1 không thể hàn gắn, chị T không còn tình cảm đối với anh T1 và không thể tiếp tục sống chung với nhau được nữa nên yêu cầu được ly hôn với anh T1.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành mời hòa giải, để động viên chị T và anh T1 đoàn tụ nhưng chị T quyết định ly hôn, riêng anh T1 vắng mặt không có lý do. Từ đó có đủ cơ sở để kết luận: Quan hệ tình cảm vợ chồng giữa chị T và anh T1 thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc. Từ đó cho thấy, đời sống chung của vợ chồng chị T và anh T1 không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ mà chị T yêu cầu xin ly hôn với anh T1 là phù hợp theo khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Tại phiên tòa, chị T vẫn cương quyết xin ly hôn với anh T1 nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị T. Cho chị T và anh T1 được ly hôn.
[2]. Về con chung: Chị T và anh T1 chung sống với nhau có 02 con chung tên Trần Lê Mỹ T4 (Giới tính: Nữ), sinh ngày 18/2/2016 và Trần Đăng K (Giới tính: Nam) sinh ngày 23/9/2020. Hiện nay hai đứa con đã chung sống với chị T, chị T yêu cầu được tiếp tục nuôi 02 con chung, không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, tại bản tự khai của cháu Trần Lê Mỹ T4 cũng có nguyện vọng sống với mẹ (Lê Thị Diễm T), riêng cháu Trần Đăng K tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm cháu K chưa đủ 7 tuổi nên chưa ghi nhận nguyện vọng của cháu. Đối với anh Trần Thanh T1 đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không lý do nên Hội đồng xét xử xem như anh T1 từ bỏ quyền yêu cầu xin nuôi con chung. Vì vậy, để đảm bảo sự phát triển và không làm xáo trộn cuộc sống của 02ccon chung, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thống nhất giao 02 con chung Trần Lê Mỹ T4 và Trần Đăng K cho chị Lê Thị Diễm T tiếp tục nuôi dưỡng. Do chị T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh Trần Thanh T1 chưa phải cấp dưỡng.
Anh Trần Thanh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
[3]. Về tài sản chung: Chị T khai không có, riêng anh Trần Thanh T1 trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên toà anh T1 đều vắng mặt. Do đó, Toà án không tiến hành ghi được lời khai của anh T1 nên không xác định được khối tài sản chung của chị T và anh T1 có hay không. Vì vậy, Hội đồng xét xử tách phần tài sản chung không giải quyết, nếu sau này có chứng cứ chứng minh thì có quyền khởi kiện bằng một vụ án khác theo quy định pháp luật.
[4]. Về nợ chung: Chị T và anh T1 có nợ Ngân hàng C phòng giao dịch thị xã L số tiền gốc là 41.800.000 đồng và lãi phát sinh.
[5]. Xét yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng C, Hội đồng xét xử xét thấy:
Căn cứ vào bản tự khai người đại diện theo ủy quyền của ngân hàng và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án có cở sở xác định: Giữa Ngân hàng C anh Trần Thanh T1 là người đại diện theo giấy uỷ quyền và người được uỷ quyền chị Lê Thị Diễm T có ký kết giấy đề nghị vay vốn ngày 06/8/2019 và ngày 06/9/2020 vay của ngân hàng số tiền gốc 50.000.000 đồng. Sau khi nhận nợ thì chị T có thực hiện nghĩa vụ đóng lãi cho ngân hàng Đ, dư nợ hiện tại là 41.800.000 đồng. Mặc dù khoản nợ vay chưa đến hạn nhưng chị T và anh T1 đã tranh chấp ly hôn nên ảnh hưởng phần vốn vay tại ngân hàng, do đó ngân hàng yêu cầu chị T và anh T1 phải trả số tiền đã vay và lãi phát sinh. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm thì chị T và anh T1 còn nợ số tiền tổng cộng vốn và lãi là 30.115.283 đồng.
Xét thấy, sự thỏa thuận của các bên trong giấy đề nghị vay vốn là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật. Chị T, anh T1 đã vay tiền của Ngân hàng thì phải có nghĩa vụ trả tiền vay theo hợp đồng đã ký kết. Việc chị T và anh T1 tranh chấp ly hôn nên ảnh hưởng phần vốn vay tại ngân hàng, do đó ngân hàng yêu cầu chị T và anh T1 phải trả số tiền đã vay và lãi phát sinh. Vì vậy, Ngân hàng C có đơn yêu cầu độc lập đối với chị T và anh T1 trả số tiền còn nợ gồm vốn và lãi tổng cộng 30.115.283 đồng là có căn cứ chấp nhận. Nên buộc chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 có trách nhiệm trả cho Ngân hàng C phòng Giao dịch thị xã L số tiền vay còn nợ tổng cộng là 30.115.283 đồng; trong đó vốn gốc 30.000.000 đồng, lãi trong hạn 115.283 đồng.
[6]. Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[7]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, nguyên đơn chị Lê Thị Diễm T, bị đơn anh Trần Thanh T1 phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, 273, 278 và Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng Điều 9, 56, 81, 82 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Áp dụng Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Lê Thị Diễm T đối với bị đơn anh Trần Thanh T1.
Chấp nhận yêu cầu độc lập của Ngân hàng C đối với chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1.
- Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Diễm T được ly hôn với anh Trần Thanh T1.
- Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Diễm T được tiếp tục nuôi 02 đứa con tên Trần Lê Mỹ T4, (Giới tính: Nữ) sinh ngày 18/02/2016; Trần Đăng K, (Giới tính: Nam) sinh ngày 23/9/2020. Hiện đang chung sống với chị T. Do chị T chưa yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung nên anh Trần Thanh T1 chưa phải cấp dưỡng.
- Về tài sản chung: Dành quyền khởi kiện cho chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 thành vụ án khác khi có yêu cầu.
- Về nợ chung: Buộc chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng C phòng Giao dịch thị xã L, tỉnh Hậu Giang tổng số tiền 30.115.283 đồng (Ba mươi triệu một trăm mười lăm ngàn hai trăm tám mươi ba đồng); trong đó tiền gốc 30.000.000₫ (Ba mươi triệu đồng), lãi trong hạn 115.283 đồng (Một trăm mười lăm ngàn hai trăm tám mươi ba đồng).
- Về án phí:
Anh Trần Thanh T1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm khách hàng vay còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thoả thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thoả thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Toà án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
5.1. Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Lê Thị Diễm T phải chịu là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng). Khấu trừ tiền tạm ứng án phí chị T đã nộp theo lai thu số 0007833 ngày 15/05/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Long Mỹ, tỉnh Hậu Giang thành án phí.
5.2. Án phí dân sự sơ thẩm: chị Lê Thị Diễm T và anh Trần Thanh T1 phải nộp là 1.505.764 đồng (Một triệu năm trăm lẻ năm nghìn bảy trăm sáu mươi bốn đồng).
Đối với Ngân hàng C được miễn tiền tạm ứng án phí nên không xem xét.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
7. Các đương sự có mặt được quyền làm đơn kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên toà hoặc không có mặt khi tuyên án mà không có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận
|
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Minh Chánh |
Bản án số 66/2024/HNGĐ - ST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG về tranh chấp ly hôn, nợ chung
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ - ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nợ chung
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LONG MỸ, TỈNH HẬU GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị T và anh Trần Thanh T1 quen biết với nhau và được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn vào ngày 28/9/2015 tại Ủy ban nhân phường V, thị xã L, tỉnh Hậu Giang. Khi anh T1 cưới chị T về thì vợ, chồng sống chung hạnh phúc được khoảng 08 năm, sau đó thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cự cải với nhau, anh T1 không quan tâm vợ, con. Hiện tại tình cảm của chị T với anh T1 không còn nên cuộc sống chung không hạnh phúc chị T và anh T1 ly thân với nhau từ tháng 4 năm 2023 cho đến nay, nên chị T quyết định ly hôn với anh T1.
