|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-PT Ngày: 23-7-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Vũ Văn Minh.
Các Thẩm phán: ông Trần Hưng Bính và ông Trần Ngọc Tú.
- Thư ký phiên tòa: ông Phan Văn Viện – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 64/2024/TLPT-HS ngày 14/6/2024 đối với bị cáo Nguyễn Văn N; do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Văn N; sinh ngày 29/4/1980, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; nơi cư trú: thôn P, xã L, huyện P, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Lái xe ô tô; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn C (đã chết) và bà Hoàng Thị S; có vợ là: Lê Ngọc Q và 03 người con lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 09/06/2003, bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 30 tháng tù giam về tội “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ" (Bản án hình sự sơ thẩm số 30/HSST ngày 09/06/2003 của Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế). Nguyễn Văn N đã chấp hành xong bản án. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú". Có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác có liên quan đến kháng cáo: không
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/11/2023, Nguyễn Văn N (có giấy phép lái xe ô tô hạng E) trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển số 75C - 048.54 chạy theo hướng từ Nhà máy dăm gỗ Huế PP ra đường dẫn phía Bắc hầm đường bộ Phú G. Đến khoảng 22 giờ 16 phút cùng ngày, xe ô tô do N điều khiển đi đến Km 0+200 đường dẫn phía bắc hầm đường B. Do không chấp hành biển báo nguy hiểm nên xe ô tô do N điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển số 75K1-580.84 do anh Đặng Phương Đ (không có Giấy phép lái xe) điều khiển chở anh Nguyễn C1 ngồi phía sau xe, chạy theo hướng Huế - Đà Nẵng đến, gây tai nạn. Hậu quả, anh Đ chết, 02 phương tiện bị hư hỏng.
Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:
Lấy hướng Huế - Đà Nẵng làm hướng khám nghiệm. Chọn biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên bên phải, bên trái" ở mép đường bên phải làm mốc. Lấy dải phân cách liền chia 02 phấn đường dành cho xe cơ giới trên đường dẫn vào phía Bắc hầm đường B làm chuẩn. Nơi xảy ra vụ tai nạn là khu vực ngã tư đường giao nhau giữa đường dẫn phía Bắc hầm đường bộ P với đường vào nhà máy D. Đường dẫn phía Bắc hầm đường bộ Phú G được rải nhựa phẳng; ở giữa có dải phân cách liền; mặt đường rộng 11,3m, trong đó phần đường dành cho người đi bộ, xe thô sơ bên phải rộng 2,4m, bên trái rộng 1,95m. Cách 300m về phía Huế ở mép đường bên phải đường dẫn phía Bắc hầm đường bộ Phú Gia có 01 biển báo nguy hiểm “Đi chậm"; cách 120m có biển báo nguy hiểm “Kết thúc đường đôi” và cách 18,1m có biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên bên phải, bên trái"; trên mặt đường còn có 02 hệ thống gờ giảm tốc màu vàng cách nhau 300m.
Cách 90m về phía Đà Nẵng ở mép đường bên trái đường dẫn phía Bắc hầm đường B có các biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên bên phải, bên trái” và “Đi chậm”; cách 15m có biển báo “Đường đôi”. Đường vào nhà máy D PP rải nhựa phẳng, thẳng, có mặt đường rộng 07m. Cách dải phân cách liền ở giữa đường dẫn vào hầm đường B một đoạn 65m về phía nhà máy dăm gỗ, ở mép đường bên phải có 01 biển báo “Tốc độ tối đa cho phép 40"; cách 25m có hệ thống gờ giảm tốc màu vàng. Cách biển báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên bên phải, bên trái” một đoạn 18,1m về phía Đà Nẵng, ở phần đường dành cho xe cơ giới bên phải có 01 dấu vết chà xước, mài mòn kim loại màu trắng, thẳng hàng, chiều hướng H - Đà Nẵng, có kích thước (0,7 x 0,005 x 0,012)m, có điểm đầu cách dải phân cách làm chuẩn 1,55m, điểm cuối cách 1,1m (dấu vết 01).
Cách dấu vết (01) 3,8m về phía Đà Nẵng, ở phần đường dành cho xe cơ giới bên phải cũng có 01 dấu vết chà xước, mài mòn kim loại màu trắng, thẳng hàng, chiều hướng Huế - Đà Nẵng, kích thước (0,5 x 0,005 x 0,010)m, có điểm đầu cách dải phân cách làm chuẩn 1,1m, điểm cuối cách 1,0m (dấu vết 02).
Cách điểm đầu dấu vết (02) 0,99m về phía tím đường, ở phần đường cho xe cơ giới bên phải có 01 dấu vết trầy xước thẳng hàng, chiều hướng Đà Nẵng - Huế, có
kích thước (02 x 0,005)m, có điểm đầu cách dải phân cách làm chuẩn 0,3m, điểm cuối là vị trí chiếc xe mô tô 75K1-580.54 nằm nghiêng trái, đầu quay hướng mép đường bên trái, đuôi quay hướng tim đường; trục trước dính vào bánh xe ô tô 75C-048.54, các sau nằm ngay dải phân cách chuẩn (dấu vết 03). Cách điểm đầu dấu vết (03) 0,2m về phía Đà Nẵng, trên nền đường, dưới gầm xe ô tô biển số 75C-048.54 có 01 đám mảnh nhựa, gương vỡ màu trắng, không rõ hình, kích thước (02 x 03)m; trung tâm đám mảnh vỡ này cách dải phân cách làm chuẩn 01m (dấu vết 04). Vị trí xe ô tô biển số 75C- 048.54 nằm chắn ngang đường, đầu quay chếch hướng Huế, đuôi quay chếch hướng Đà Nẵng, trục trước cách dải phân cách làm chuẩn 1,86m, trục sau cách 2,29m. Ngoài ra, không ghi nhận gì khác.
Tại bản Kết luận giám định tử thi số 243-23/KLGĐTT-GĐPY ngày 13/11/2023 của Trung tâm Giám định y khoa - pháp y Sở Y tế tỉnh T đã kết luận về nguyên nhân chết của Đặng Phương Đ là do đa chấn thương thân thể ngực - bụng nặng, sốc mất máu do tai nạn giao thông.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 05/KL-HĐĐG ngày 29/02/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện P kết luận: Xe ô tô tải hiệu Chenglong biển số 75C-048.54 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 300.000đ; xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số 75K1-580.54 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 3.610.000đ. Tổng trị giá thiệt hại: 3.910.000₫.
Quá trình điều tra thu giữ: 01 chiếc xe ô tô hiệu Chenglong biển số 75C-048.54; 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Vario 150 biển số 75K1-580.54; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 75K1-580.54; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô 75C-048.54; 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng E, có số [...] mang tên Nguyễn Văn N, cấp ngày 04/10/2022, có giá trị đến ngày 01/10/2027.
Về trách nhiệm dân sự: Các bên đã tự thỏa thuận về bồi thường dân sự với tổng số tiền 150.000.000₫ (chủ xe ôtô 75C-048.54 bồi thường 100.000.000₫; Nguyễn Văn N bồi thường 50.000.000₫). Đại diện hợp pháp của bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường và có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ cho Nguyễn Văn N. Đối với thiệt hại của xe mô tô 75K1-580.54, anh Nguyễn L không yêu cầu giải quyết.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 10/5/2024 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế đã quyết định áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 16/5/2024, bị cáo Nguyễn Văn N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình
phạt, xin được hưởng án treo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn N vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án: Tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N 08 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có căn cứ, đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Về án phí: Do không chấp nhận kháng cáo nên bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Văn N khai và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Bản án sơ thẩm đã xét xử đối với bị cáo, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên có đủ căn cứ để xác định :
Khoảng 22 giờ 16 phút ngày 01/11/2023, tại Km 0+200 đường dẫn phía Bắc đường bộ P; Nguyễn Văn N (có giấy phép lái xe ô tô hạng E) trực tiếp điều khiển xe ô tô tải biển số 75C-048.54 chạy theo hướng từ Nhà máy dăm gỗ Huế PP ra đường dẫn phía Bắc hầm đường bộ Phú G. Khi đến vị trí trên, xe ô tô do N điều khiển đã va chạm với xe mô tô biển số 75K1-580.84 do anh Đặng Phương Đ (không có Giấy phép lái xe theo quy định) điều khiển chở anh Nguyễn C1 ngồi phía sau chạy theo hướng Huế - Đà Nẵng đến, gây tai nạn. Hậu quả, anh Đ chết tại chỗ; xe mô tô 75K1-580.84 bị hư hỏng, thiệt hại trị giá 3.610.000 đồng.
Nguyên nhân xảy ra vụ tai nạn giao thông là do lỗi hỗn hợp, cụ thể:
Lỗi của Nguyễn Văn N là khi điều khiển xe ô tô tải biển số 75C-048.54 tham gia giao thông đường bộ đã thiếu chú ý quan sát, không chấp hành báo hiệu đường bộ; không giảm tốc độ của xe ô tô để có thể dừng lại một cách an toàn; điều khiển xe ô tô đi vào nơi giao nhau giữa đường không ưu tiên ra đường ưu tiên nhưng không nhường đường cho phương tiện đi trên đường ưu tiên tới. Hành vi đó đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 11, Điều 12 và khoản 3 Điều 24 của Luật Giao thông đường bộ.
Lỗi của bị hại là không có Giấy phép lái xe theo quy định nhưng đã điều khiển xe mô tô 75K1-580.84 chở anh Nguyễn C1 tham gia giao thông đường bộ; không chấp hành báo hiệu đường bộ, không giảm tốc độ của xe đề có thể dừng lại
một cách an toàn khi đi qua đoạn đường có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm (có các biển báo nguy hiểm và hệ thống gờ giảm tốc), chạy vận tốc lớn trong điều kiện trời mưa nên không xử lý được; đã vi phạm khoản 1 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G1 vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ; vi phạm khoản 9 Điều 8, khoản 1 Điều 11 và Điều 12 của Luật Giao thông đường bộ.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử và tuyên phạt bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[2] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Văn N, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy:
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Lỗi trong vụ tai nạn giao thông là lỗi hỗn hợp, tuy nhiên bị cáo có nhân thân xấu, năm 2003 đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế xử phạt 30 tháng tù giam về tội Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân mà tiếp tục phạm tội, do đó phải xử lý nghiêm, cần phải xử phạt tù giam đối với bị cáo mới tương xứng với tính chất và mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo và răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo 08 (tám) tháng tù giam là phù hợp, đã xem xét đến nhân thân, đánh giá đúng tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nào mới, vì vậy Hội đồng xét xử không có căn cứ để chấp nhận đơn kháng cáo của bị cáo mà cần phải giữ nguyên bản án sơ thẩm như lời đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát là hoàn toàn có cơ sở.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
[3] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
1. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Văn N; giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 27/2024/HS-ST ngày 10/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Phú Lộc, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản
1 Điều 54, Điều 38 của Bộ luật hình sự. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 08 (tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm thi hành án.
2. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Văn Minh |
Bản án số 66/2024/HS-PT ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 66/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm
