Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ PHỔ YÊN

TỈNH THÁI NGUYÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 23 – 04 – 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Chiều

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hồng Hải

2. Bà Nguyễn Thị Thanh

- Thư ký Tòa án: Ông Trần Anh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên tham gia phiên tòa: Ông Đào Việt Yên - Chức vụ: Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 179/2023/TLST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2024/HSST-QĐ ngày 18/01/2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị G; Tên gọi khác: Không; Sinh ngày: 03/05/1988 tại Bắc Giang; Giới tính: Nữ; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông: Nguyễn Văn H, sinh năm 1960 (Đã chết); Con bà: Phạm Thị P, sinh năm 1959; Có chồng là Trần Mậu T và có con 05 con (Con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2019); Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, hiện được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

- Bị hại: Cháu Hoàng Văn Đ; sinh ngày 02/07/2007; Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt)

Người đại diện hợp pháp cho cháu Hoàng Văn Đ: Anh Hoàng Văn T1; sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn (Có mặt)

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Bà Nguyễn Thị D – Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (Có mặt)

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Thân Mậu T2; sinh năm 1988; Nơi cư trú: Tổ dân phố B, thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang (Có mặt)
  2. Anh Nguyễn Minh Q; sinh năm 1992; Nơi cư trú: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên (Có mặt)

- Người làm chứng: Chị Lưu Ngọc T3; sinh năm 1992; Nơi cư trú: Xóm L, xã L, huyện V, tỉnh Thái Nguyên. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị G cùng chồng là Trần Mậu T (sinh năm 1988, trú tại thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang) làm nghề kinh doanh sửa chữa cửa cuốn. Khoảng 04 giờ ngày 26/6/2023 T điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GETZ, biển kiểm soát 98H-1891 chở G đi từ nhà tại thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang đến địa bàn thành phố P, tỉnh Thái Nguyễn để kiểm tra các điểm dán tem quảng cáo ở cửa cuốn của các hộ dân mà trước đó G và T đã dán. Khoảng 05 giờ cùng ngày, G và T đi đến đoạn đường Quốc lộ 3 gần ngã tư P thuộc tổ dân phố B, phường B, thành phố P thì thấy cháu Hoàng Văn Đ (sinh ngày 02/07/2007, trú tại thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) đang bóc các tem quảng cáo của G và T trên cửa cuốn ngôi nhà ven đường ra và dán đè tem quảng cáo khác lên tem của G và T. Thấy vậy, T ngồi trên xe ô tô nhắc nhở cháu Đ không được bóc tem quảng cáo của G và T, rồi tiếp tục đi đến khu đô thị V, sau đó thì quay lại vẫn thấy cháu Đ tiếp tục bóc tem quảng cáo của G và T nên T dừng xe lại. Khi T dừng xe, G xuống xe đi lại gần cháu Đ, dùng tay phải tát mạnh vào vùng mặt bên trái của cháu Đ rồi dùng tay giật 51 chiếc tem quảng cáo mà cháu Đ đang cầm và nói “Cô gặp cháu hai lần rồi, cô bảo cháu đi về không làm nữa, hôm nay là lần thứ 3 cô gặp cô mới tát cháu, đi về đi”. Sau khi G đánh cháu Đ thì T cũng xuống xe lấy 01 đoạn gậy bằng ống nhựa (loại ống nhựa chịu nhiệt), dài khoảng 50cm Thìn đã để trên xe ô tô từ trước rồi đi về phía cháu Đ vụt 02 cái vào chân của cháu Đ, sau đó đi đến gần xe máy của cháu Đ và rút chìa khóa xe đang cắm trên xe ra rồi nói “Bóc hết miếng dán của cháu ra chú trả chìa khóa xe”. Sau đó T đi lên dán lại các tem khác rồi trả chìa khóa xe cho cháu Đ và cùng G lên ô tô đi về H, Bắc Giang. Số tem quảng cáo cáo lấy được của cháu Đ, G mang về nhà cất giấu. Sau đó, cháu Đ đã đến C phường B, thành phố P trình báo vụ việc. Công an phường B đã lập biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, thu thập tài liệu chứng cứ. Ngày 09/7/2023, Công an phường B đã chuyển toàn bộ tài liệu, hồ sơ vụ việc trên đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để giải quyết theo thẩm quyền.

Tại Bản kết luận định giá số: 80/KLĐG ngày 10/8/2023 của Hội đồng định giá tài sản thành phố P, kết luận: 51 Tem giấy quảng cáo in chữ “SỬA CHỮA CỬA CUỐN - 0338.000.100”, T4 được làm bằng chất liệu giấy đề can, có lớp keo dính, kích thước (21x4)cm. Tem quảng cáo chưa qua sử dụng, có giá trị là 25.500 đồng.

Quá trình điều tra, Nguyễn Thị G đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai nhận của G phù hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Ngày 14/7/2023, Cơ quan điều tra đã tiến hành tạm giữ: 01 đoạn gậy nhựa màu xanh dài 61cm, đường kính 5,5cm (một đầu có bịt kim loại có mũi nhọn, một đầu bịt kim loại hàn ốc vít có dây treo màu xanh); 51 Tem giấy quảng cáo in chữ “SỬA CHỮA CỬA CUỐN - 0338.000.100” và 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GETZ, biển kiểm soát 98H-1891 do T và G giao nộp.

Về trách nhiệm dân sự: Cháu Hoàng Văn Đ yêu cầu giải quyết việc bồi thường dân sự theo quy định pháp luật; anh Nguyễn Minh Q không có yêu cầu đề nghị bồi thường gì đối với Nguyễn Thị G. Ngày 25/9/2023, G tự nguyện giao nộp số tiền 10.000.000 đồng vào tài khoản của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố P để khắc phục hậu quả.

Vật chứng của vụ án: 51 Tem giấy quảng cáo in chữ “SỬA CHỮA CỬA CUỐN - 0338.000.100” là tài sản của anh Nguyễn Minh Q (sinh năm 1992, trú tại tổ B, phường P, thành phố T) giao cho cháu Đ mang đi dán hộ được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu B; 01 đoạn gậy nhựa màu xanh được niêm phong ký hiệu G và 10.000.000 đồng tiền mặt được chuyển đến kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Phổ Yên chờ xử lý; 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GETZ, biển kiểm soát 98H-1891, Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Mậu T quản lý, sử dụng.

Do có hành vi nêu trên nên tại bản Cáo trạng số: 192/CT-VKSPY ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị G về tội: “Cướp tài sản” theo điểm e khoản 2 Điều 168 của Bộ luật Hình sự.

Kết thúc phần thẩm vấn công khai, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội: “Cướp tài sản”
  2. Về hình phạt:
    1. Về hình phạt chính: Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 đề nghị xử phạt:

Bị cáo Nguyễn Thị G mức án 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 274, Điều 275, Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 590 Bộ luật Dân sự; Căn cứ Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại, theo đó cần buộc bị cáo phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại với tổng số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì thêm nên không xem xét giải quyết.

  1. Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
    • Tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gậy nhựa màu xanh được niêm phong ký hiệu “G”.
    • Trả lại cho anh Nguyễn Minh Q 51 Tem giấy quảng cáo in chữ “SỬA CHỮA CỬA CUỐN - 0338.000.100” được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu “B”.
  2. Về án phí và quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 106, Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Nguyễn Thị G phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo theo quy định.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại trình bày luận cứ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại: Đồng ý với tội danh và điều luật áp dụng mà Viện kiểm sát đã truy tố cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức bồi thường thiệt hại. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã nhận thức được lỗi lầm của bị cáo đã gây ra, hoàn cảnh bị cáo hiện nuôi 5 con nhỏ, rất khó khăn, tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng nhưng hậu quả do hành vi của bị cáo gây ra không lớn nên người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại nhất trí với quan điểm của Viện kiểm sát áp dụng Điều 54 và áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại nhất trí với luận cứ của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đồng thời xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, đề nghị xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, cải tạo tại địa phương.

Trong phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan.

Lời nói sau cùng, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất xin được cải tạo tại địa phương.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên trong điều tra, truy tố: Trong quá trình điều tra, truy tố Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tư cách tham gia tố tụng và sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng tại phiên tòa:

[2.1]. Về tư cách tham gia tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố và chuẩn bị xét xử, người đại diện hợp pháp cho bị hại Hoàng Văn Đ là Anh Hoàng Văn T1; sinh năm 1987; Nơi cư trú: Thôn K, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn đã ủy quyền tham gia tố tụng cho anh Nguyễn Minh Q; sinh năm 1992; Nơi cư trú: Tổ B, phường P, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên để thay mình giải quyết vụ việc với các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Tuy nhiên, tại phiên tòa anh Hoàng Văn T1 có ý kiến về việc từ chối ủy quyền cho anh Nguyễn Minh Q. Xét thấy việc anh Hoàng Văn T1 từ chối ủy quyền cho anh Nguyễn Minh Q là tự nguyện, không bị ai ép buộc nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.2]. Về sự vắng mặt của những ngườ tham gia tố tụng: Tại phiên toà vắng mặt người làm chứng là chị Lưu Ngọc C1. Xét thấy người làm chứng đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Căn cứ Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử vắng mặt đối với những người có tên trên theo quy định.

[3]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ được thu thập hợp lệ có trong hồ sơ vụ án, như: kết luận định giá tài sản, bệnh án của bị hại, dữ liệu trích xuất camera, vật chứng thu giữ, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, sơ đồ, bản ảnh hiện trường ... và lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Nguyễn Thị G làm nghề sửa chữa cửa cuốn, khoảng 04 giờ ngày 26/6/2023 G cùng Trần Mậu T (chồng G) điều khiển xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GETZ, biển kiểm soát 98H-1891 chở G đi từ nhà tại thôn Q, xã N, huyện H, tỉnh Bắc Giang đến địa bàn thành phố P, tỉnh Thái Nguyên để kiểm tra các điểm dán tem quảng cáo ở cửa cuốn của các hộ dân mà trước đó G và T đã dán. Khoảng 05 giờ cùng ngày, G và T đi đến đoạn đường Quốc lộ 3 gần ngã tư P thuộc tổ dân phố B, phường B, thành phố P thì thấy cháu Hoàng Văn Đ (sinh ngày 02/07/2007, trú tại thôn T, xã C, huyện B, tỉnh Bắc Kạn) đang bóc các tem quảng cáo của G và T trên cửa cuốn ngôi nhà ven đường ra và dán đè tem quảng cáo khác lên tem của G và T. Thấy vậy, T ngồi trên xe ô tô nhắc nhở cháu Đ không được bóc tem quảng cáo của G và T, rồi tiếp tục đi đến khu đô thị V, sau đó thì quay lại vẫn thấy cháu Đ tiếp tục bóc tem quảng cáo của G và T nên T dừng xe lại. Khi T dừng xe, G xuống xe đi lại gần cháu Đ, dùng tay phải tát mạnh vào vùng mặt bên trái của cháu Đ rồi dùng tay giật 51 chiếc tem quảng cáo mà cháu Đ đang cầm và nói “Cô gặp cháu hai lần rồi, cô bảo cháu đi về không làm nữa, hôm nay là lần thứ 3 cô gặp cô mới tát cháu, đi về đi” (thời điểm này cháu Đ được 15 tuổi 11 tháng 24 ngày). Sau khi chiếm đoạt được 51 Tem giấy quảng cáo G đã mang về nhà cất giấu.

Hành vi, ý thức của bị cáo Nguyễn Thị G đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.

Do đó, bản Cáo trạng số: 192/CT-VKSPY ngày 22/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng người, đúng tội, không oan.

Nội dung Điều 168 Bộ luật Hình sự quy định:

“Điều 168: Tội cướp tài sản

1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

...

e) Phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ;”

[4]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội, Hội đồng xét xử thấy:

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của cá nhân được pháp luật hình sự bảo vệ nên cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Nguyên nhân, động cơ dẫn đến việc phạm tội là do người bị hại trước đó đã có hành vi không chuẩn mực như bóc, xé tem quảng cáo mà bị cáo đã dán trước đó trên cửa cuốn và dán đè Tem quảng cáo của bị hại mặc dù đã được nhắc nhở dẫn tới hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

[5]. Xét các yếu tố về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, vai trò các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận thấy:

5.1. Về nhân thân: Quá trình sinh sống tại địa phương bị cáo là người chưa có tiền án, tiền sự là người có nhân thân tốt.

5.2. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại nên có căn cứ cho các bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là: “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cảỉ” và “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả” quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra tại phiên tòa bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích cho bị hại đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, đề nghị cho bị cáo được cải tạo tại địa phương nên Hội đồng xét xử thấy có căn cứ cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

5.3. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự.

[6]. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, các yếu tố về nhân thân của bị cáo khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, trong lúc bực tức không làm chủ được bản thân do chưa nhận thức đầy đủ về pháp luật nên đã có hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản mà pháp luật buộc bị cáo phải biết điều đó là nguy hiểm cho xã hội. Tuy nhiên khi xem xét toàn diện vụ án thấy rằng nguyên nhân bị cáo phạm tội cũng có lỗi một phần của bị hại dẫn đến bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như trên.

Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, trong đó có ít nhất là hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đã được quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào, đồng thời bị cáo là người có nhân thân tốt, quá trình sinh sống tại địa phương chưa có tiền án, tiền sự, bị cáo phạm tội lần đầu, hành vi phạm tội của bị cáo xuất phát từ bực tức cá nhân chỉ mang tính bột phát. Mặt khác, bị cáo đã bồi thường, khắc phục một phần hậu quả cho bị hại và tại phiên tòa bị cáo tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại theo đề nghị của bị hại thể hiện ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo và bị cáo được bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị xem xét cho bị cáo được cải tạo tại địa phương, Hội đồng xét xử thấy có căn cứ áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Ngoài ra, bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, bị cáo có khả năng tự cải tạo và việc cho bị cáo được cải tạo tại địa phương không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn, xã hội nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù giam mà cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp với tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội do hành vi phạm tội mà bị cáo thực hiện.

Xét thấy, mức án mà đại diện Viện kiểm sát, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại đề nghị tại phiên tòa đối với bị cáo là phù hợp được chấp nhận.

[7]. Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật Hình sự quy định:

...6. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản...

Xét thấy, bị cáo hiện có hoàn cảnh khó khăn, bản thân đang phải nuôi dưỡng 5 con còn nhỏ, đang trong độ tuổi đi học nên không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại đã tự nguyện, thống nhất thỏa thuận về mức bồi thường thiệt hại, cụ thể: Bị cáo có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho bị hại Hoàng Văn Đ với tổng số tiền là 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng), ngay tại phiên tòa bị cáo đã tự nguyện bồi thường 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) cho bị hại Đ, đối với phần nghĩa vụ bồi thường 10.000.000 đồng còn lại sẽ được khấu trừ vào khoản tiền 10.000.000₫ do bị cáo đã nộp trước đó trong giai đoạn điều tra để khắc phục hậu quả, hiện số tiền này đang được tạm gửi tại kho bạc Nhà nước P1. Xét thấy nội dung thỏa thuận giữa bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không bị lừa dối, ép buộc, không trái pháp luật, không trái đạo đức xã hội nên cần ghi nhận sự thỏa thuận giữa bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho người bị hại về phần trách nhiệm dân sự trong vụ án.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu, đề nghị gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9]. Về biện pháp tư pháp:

  • Đối với các vật chứng là: 51 Tem giấy quảng cáo in chữ “SỬA CHỮA CỬA CUỐN - 0338.000.100” là tài sản của anh Nguyễn Minh Q (sinh năm 1992, trú tại tổ B, phường P, thành phố T) giao cho cháu Đ mang đi dán hộ được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu B, anh Q xin được nhận lại nên cần trả lại cho anh Q quản lý, sử dụng.
  • Đối với 01 đoạn gậy nhựa màu xanh được niêm phong ký hiệu G – Hội đồng xét xử xác định là vật không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy
  • Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI GETZ, biển kiểm soát 98H-1891, Cơ quan điều tra trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Trần Mậu T quản lý, sử dụng là phù hợp.

[10]. Về chi phí tố tụng: bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

[11]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm theo quy định

[12]. Các vấn đề khác trong vụ án: Đối với anh Trần Mậu T có hành vi dùng gậy đánh cháu Hoàng Văn Đ nhưng cháu Đ không bị tổn hại về sức khỏe nên hành vi của T không cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự. Tại thời điểm Trần Mậu T đánh cháu Đ là sau khi G đánh và chiếm đoạt tài sản của Đ. Ngoài ra trước khi G đánh và chiếm đoạt tài sản của Đ thì giữa anh T và chị G không bàn bạc và thống nhất nội dung gì với nhau cho nên hành vi của T không đồng phạm với Nguyễn Thị G về tội “Cướp tài sản”. Ngày 20/10/2023 Công an thành phố P đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Mậu T về hành vi “Cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác nhưng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự” theo quy định tại điểm a, khoản 5, điều 7, Nghị định số 144/2021/NĐ-CP của Chính phủ ngày 31/12/2021 là phù hợp.

Đối với anh Nguyễn Minh Q là người đã nhờ Hoàng Văn Đ dắt chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Sirus, BKS: 20L3-8309 đi sửa vào chiều ngày 25/6/2023. Sau đó, Đ đã tự ý sử dụng chiếc xe trên để đi dán tem quảng cáo. Do vậy không có căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Minh Q về hành vi “Giao xe hoặc để cho người không đủ điều kiện” theo quy định tại điểm đ, khoản 5, điều 30 Nghị định số 100/2019/NĐ-CP ngày 30/12/2019 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ.

Đối với việc Hoàng Văn Đ đi dán tem quảng cáo cho Nguyễn Minh Q. Quá trình điều tra xác định bản thân Hoàng Văn Đ có ăn, ở tại nhà của Nguyễn Minh Q do vậy Q có giao cho Đ đi dán hộ các tem quảng cáo lắp đặt và sửa chữa cửa cuốn, không có hợp đồng lao động. Vì vậy không có căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính Nguyễn Minh Q về hành vi “Sử dụng người lao chưa thành niên” theo quy định tại Điều 28 Nghị định 28/2020/NĐ-CP ngày 01/03/2020 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm e khoản 2 Điều 168, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 46, Điều 47, Điều 48; khoản 1 Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;

- Căn cứ Điều 106, Điều 136, Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 274, Điều 275, Điều 357, Điều 468, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 590 Bộ luật Dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số: 02/2022/NQ-HĐTP ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng;

- Căn cứ điểm f, g khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội “Cướp tài sản”.
  2. Về hình phạt:
    1. Về hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị G 03 (Ba) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Thị G cho Ủy ban nhân dân thị trấn T, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo

  1. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
  1. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thỏa thuận bồi thường thiệt hại giữa bị cáo, bị hại và người đại diện hợp pháp cho bị hại, cụ thể:

Bị cáo Nguyễn Thị G có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bị hại Hoàng Văn Đ với tổng số tiền 20.000.000đ. Tại phiên tòa bị cáo đã bồi thường cho bị hại số tiền 10.000.000đ, đối với phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại 10.000.000₫ còn lại sẽ được khấu trừ vào số tiền 10.000.000 đồng bị cáo đã nộp để khắc phục hậu quả trước đó theo Quyết định tạm gửi tiền vào kho bạc Nhà nước số: 32/QĐ-CQCSĐT ngày 25/9/2023 tại kho bạc Nhà nước P1.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu người phải thi hành án không thi hành nghĩa vụ trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả cho đến khi thi hành xong, mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  1. Về biện pháp tư pháp:
    • Trả lại cho anh Nguyễn Minh Q 51 Tem giấy quảng cáo in chữ “SỬA CHỮA CỬA CUỐN - 0338.000.100, tem được làm bằng chất liệu đề can có lớp keo dính, kích thước (21x4)cm chưa qua sử dụng, được niêm phong trong phong bì thư kí hiệu “B”
    • Tịch thu tiêu hủy 01 đoạn gậy nhựa màu xanh được niêm phong ký hiệu “G”

(Hiện số vật chứng trên đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi Cục thi hành án Dân sự thành phố Phổ Yên theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20 tháng 11 năm 2023).

  1. Về chi phí tố tụng: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000đồng (năm trăm nghìn) án phí dân sự sơ thẩm vào ngân sách Nhà nước.
  2. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp cho bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Công an tỉnh Thái Nguyên;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND thành phố Phổ Yên;
  • - Công an thành phố Phổ Yên;
  • - Chi cục THADS thành phố Phổ Yên;.
  • - Các bị cáo;
  • - Đương sự trong vụ án (nếu có);
  • - Lưu hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Hải Chiều

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 23/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN về cướp tài sản (tội phạm hình sự)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cướp tài sản (Tội phạm hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỔ YÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Nguyễn Thị G phạm tội Cướp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger