|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22-8-2024 V/v “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Nhật Thành.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành Công.
Ông Trương Thanh Nhàn.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dư – Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Ngoan - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 8 năm 2024, tại 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long và điểm cầu thành phần tại trụ sở Ủy ban nhân dân xã A, huyện C. Tòa án nhân dân huyện Càng Long mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 211/2024/TLST-HNGĐ, ngày 10 tháng 5 năm 2024, về “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 123/2024/QĐXXST – HNGĐ, ngày 22 tháng 7 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 124/2024/QĐST-HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Ngọc B, sinh năm 1987 (Có mặt tại điểm cầu thành phần UBND xã A).
- Bị đơn: Anh Phạm Văn T, sinh năm 1984 (Vắng mặt không lý do)
Đồng địa chỉ: ấp I, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản khai và tại phiên tòa chị Nguyễn Ngọc B trình bày: Chị và anh Phạm Văn T do tự quen biết tìm hiểu nhau thấy hợp ý nên tự nguyện về sống chung với nhau năm 2010 không có tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C vào ngày 18/8/2010.
Vợ chồng chung sống hạnh phúc được 08 (tám) năm, đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T không lo làm ăn, không còn quan tâm đến gia đình, vợ con, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng sống chung trong gia đình nhưng không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cự cải làm cho gia đình không được hạnh phúc. Đến khoảng tháng 5/2023 thì chị phát hiện anh T có người phụ nữ khác ở bên ngoài và mâu thuẫn của vợ chồng ngày càng phát sinh thêm nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay.
Nay nhận thấy mục đích hôn nhân không đạt được nên chị yêu cầu được ly hôn với anh T.
Về con chung: Ba người tên Phạm Hạo N, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2011; Phạm Nguyễn Tâm Đ, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2014 và Phạm Nguyễn H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2017 hiện các con chung đang sống với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung.
Về cấp dưỡng nuôi con: Trước đây khi làm đơn khởi kiện chị có yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.000.000 đồng/người/tháng cấp cho đến khi con chung đủ 18 tuổi. Tuy nhiên, nay nhận thấy khả năng chị có thể tự lo cho các con nên chị không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nữa. Chị xin rút lại phần yêu cầu cấp dưỡng nuôi con này.
Về tài sản chung; Về nợ chung phải thu, phải trả: Quá trình chung sống chị với anh T không tạo lập được tài sản chung, không thiếu nợ ai và cũng không ai thiếu nợ vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Phạm Văn T: Vắng mặt không có lý do, nên không có bản khai trình bày.
Tại biên bản lấy lời khai cháu Phạm Hạo N, Phạm Nguyễn Tâm Đ và Phạm Nguyễn H trình bày: Các cháu là con ruột của chị Nguyễn Ngọc B và anh Phạm Văn T. Hiện các cháu đang sống với mẹ là chị B. Nếu cha mẹ không còn tiếp tục sống chung với nhau nữa thì nguyện vọng của các cháu là muốn được sống chung với mẹ là Nguyễn Ngọc B.
Vụ kiện đã được Tòa án tiến hành hòa giải nhiều lần nhưng anh T không đến nên không thể hòa giải được và Tòa án Quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn chị B vẫn giữ nguyên yêu cầu, không bổ sung, cung cấp chứng cứ gì mới.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Qua kiểm sát việc giải quyết vụ án từ khi Tòa thụ lý đến thời điểm này Thẩm phán đã chấp hành đúng theo Điều 48 của Bộ luật tố tụng dân sự, đảm bảo về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp, xác định tư cách người tham gia tố tụng, thu thập chứng cứ, thời gian ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử, gửi hồ sơ cho Viện kiểm sát, cấp và tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng đã thực hiện đầy đủ và đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử thực hiện đầy đủ và đúng theo trình tự pháp luật quy định của phiên tòa sơ thẩm. Việc chấp hành pháp luật của các đương sự trong vụ án: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về quyền và nghĩa vụ của đương sự; đối với bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Vị đề nghị áp dụng các Điều 19, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Các Điều 28, 35, 39, 147, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc B: Cho chị B được ly hôn với anh Phạm Văn T. Về con chung: Giao các con chung Phạm Hạo N, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2011; Phạm Nguyễn Tâm Đ, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2014 và Phạm Nguyễn H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2017 cho chị B tiếp tục nuôi dưỡng, phù hợp với nguyện vọng của con chung là muốn sống chung với mẹ; Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ giải quyết yêu cầu do chị B tự nguyện rút lại về phần cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và về nợ chung: Chị B không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết. Ngoài ra, V đề nghị nghĩa vụ chịu án phí hôn nhân sơ thẩm và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Tòa án nhân dân huyện Càng Long nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc B với anh Phạm Văn T có địa chỉ tại ấp I, xã A, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định đây là vụ án “Ly hôn và tranh chấp nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
[2] Về thủ tục tố tụng: Anh Phạm Văn T là bị đơn trong vụ án, đã được Tòa án nhân dân huyện Càng Long triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng anh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt anh T theo luật định.
[3] Về hôn nhân: Chị Nguyễn Ngọc B với anh Phạm Văn T xác lập quan hệ hôn nhân từ năm 2010 và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện C vào ngày 18/8/2010 nên hôn nhân giữa chị B, anh T là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh, chị chung sống hạnh phúc đến năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn do anh T không lo làm ăn, không còn quan tâm đến gia đình, vợ con, bất đồng quan điểm trong cuộc sống, vợ chồng sống chung trong gia đình nhưng không có tiếng nói chung dẫn đến thường xuyên cự cải làm cho gia đình không được hạnh phúc, chị đã cho vợ chồng nhiều cơ hội để sửa đổi nhưng ngày càng phát sinh thêm nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 6/2023 cho đến nay không hàn gắn được.
[4] Đối với anh Phạm Văn T tuy hiện nay anh T không có mặt tại địa phương nhưng qua xác minh của Tòa án thì anh T1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại ấp I, xã A, huyện C quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tống đạt được các văn bản tố tụng cho ông Phạm Văn L (Là cha ruột anh T) nhận thay. Sau khi nhận các văn bản tố tụng thì ông L có thông báo cho anh T qua số điện thoại 0702.889.xxx nhưng anh T cho rằng hiện đang đi làm ở Đồng Nai và còn thương vợ con nên không muốn về giải quyết. Từ đó, cho thấy anh T biết được chị B đang yêu cầu ly hôn với anh T. Tòa án có triệu tập nhiều lần nhưng anh T vắng mặt không có lý do, nên không có lời khai cũng như yêu cầu của anh T, mặt dù Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; thông báo việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử, cũng như quyết định hoãn phiên tòa. Do anh T vắng mặt xem như anh đã từ bỏ quyền lợi của mình.
[5] Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình, ...", nhưng chị B và anh T đã không thực hiện được các nghĩa vụ này với nhau. Cụ thể, qua xác minh từ chính quyền địa phương, người thân của anh T, thấy rằng quá trình chung sống do anh T không lo chí thú làm ăn nên vợ chồng mới phát sinh mâu thuẫn. Anh T biết được chị B đang yêu cầu Tòa án giải quyết về việc tranh chấp hôn nhân giữa anh với chị B nhưng anh T không đến Tòa án để trình bày ý kiến của mình thể hiện ý chí không muốn đoàn tụ với chị B của anh T. Mặc khắc, chị B và anh T đã ly thân từ tháng 6/2023 đến nay không ai quan tâm đến ai.
[6] Từ những nhận định trên, thấy rằng đời sống chung của vợ chồng chị B, anh T đang trong tình trạng trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của chị B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình. Nên Tòa án chấp nhận yêu cầu, cho chị B được ly hôn với anh T.
[7] Về con chung: Các con chung Phạm Hạo N, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2011; Phạm Nguyễn Tâm Đ, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2014 và Phạm Nguyễn H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2017 hiện đang sống chung với chị B, được chị B chăm sóc chu đáo về mọi mặt và có nguyện vọng muốn được tiếp tục sống chung với chị B. Do đó, để đảm bảo cho quyền và lợi ích của các con chung cần giao con chung Phạm Hạo N; Phạm Nguyễn Tâm Đ và Phạm Nguyễn H cho chị B được quyền nuôi dưỡng là phù hợp quy định pháp luật và nguyện vọng của các con chung.
[8] Về cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa chị B tự nguyện rút lại yêu cầu cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử đình chỉ giải quyết yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con của chị B.
[9] Về tài sản chung: Tòa án đã giải thích theo quy định tại Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, nhưng chị B xác định không có, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[10] Về nợ chung: Do chị Nguyễn Ngọc B xác định không nợ ai, cũng không ai nợ vợ chồng, không yêu cầu giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc B có nghĩa vụ nộp theo quy định pháp luật.
[12] Xét quan điểm của Vị kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long là có căn cứ chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 70, 144, 147, 227, 228, 238, 266, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; các Điều 19, 51, 53, 54, 56, 57, 58, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 17 Luật phí và lệ phí; Điều 27, Tiểu mục 1.1 Mục 1 Phần II (Danh mục án phí) Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Ngọc B.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Nguyễn Ngọc B được ly hôn với anh Phạm Văn T.
2. Về con chung: Giao các con chung tên Phạm Hạo N, sinh ngày 16 tháng 9 năm 2011; Phạm Nguyễn Tâm Đ, sinh ngày 31 tháng 3 năm 2014 và Phạm Nguyễn H, sinh ngày 05 tháng 8 năm 2017 cho chị Nguyễn Ngọc B được quyền tiếp tục trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: Đình chỉ giải quyết yêu cầu về cấp dưỡng nuôi con của chị B.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
4. Về tài sản chung; Về nợ chung: Chị B không có tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Ngọc B phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được cấn trừ vào 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0003317, ngày 09 tháng 5 năm 2024 do Chi cục Thi hành án dân sự huyện Càng Long thu. Chị B đã nộp đủ án phí. Anh Phạm Văn T không phải chịu án phí.
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Nhật Thành |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 22/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH về ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn và tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: ly hôn, nuôi con
