|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA
|
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST Ngày: 21/8/2024 V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Hào
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Cát Tưởng
2. Bà Mai Thị Tiếp
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Kim Chi - Kiểm sát viên
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử công khai vụ án dân sự thụ lý số: 276/2024/TLST - HNGĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 223/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2024; Quyết định hoãn phiên toà số: 113/QĐST-HNGĐ ngày 06/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Hoàng Thị M - Sinh năm 1983
HKTT: SN 03B Huyện B, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở: SN 06 Huyện B, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa.
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm 1985.
HKTT: SN 03B Huyện Bà Thanh Quan, phường Ngọc Trạo, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
Nơi ở: SN 06/17 đường Trần Khánh Dư, phường Nam Ngạn, thành phố Thanh Hoá, tỉnh Thanh Hóa.
Tại phiên tòa có mặt chị M, vắng mặt anh H.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, ý kiến tại phiên toà chị Hoàng Thị M trình bày:
Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau năm 2011 trên cơ sở tự nguyện, tổ chức cưới, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau, ngoài ra anh H còn chơi bời cờ bạc, nghiện ngập, nợ nần chồng chất, từ đó mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Chị đã khuyên bảo nhiều lần nhưng anh H không thay đổi nên kể từ năm 2019 đến nay vợ chồng đã sống ly thân nhau không ai quan tâm đến ai. Nay chị xét thấy tình cảm vợ chồng thực sự không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh H.
Về con chung: Chị và Nguyễn Văn H có 02 con chung, cháu Nguyễn Thị Khánh C – Sinh ngày 02/10/2011 và cháu Nguyễn Tuấn P – Sinh ngày 04/12/2013. Ly hôn chị xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Tại bản tự khai ngày 20/6/2024 anh Nguyễn Văn H trình bày:
Về hôn nhân: Anh và chị Hoàng Thị M kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, tổ chức cưới, đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống với nhau hòa thuận hạnh phúc được một thời gian đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Anh đã cố gắng níu kéo lại tình cảm vợ chồng nhưng chị M không đồng ý và vợ chồng sống ly thân nhau từ 2019 đến nay. Nay chị M làm đơn xin ly hôn anh đề nghị Toà án hoà giải để vợ chồng đoàn tụ, nhưng nếu chị M cương quyết xin ly hôn anh đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh và chị Hoàng Thị M có 02 con chung, cháu Nguyễn Thị Khánh C – Sinh ngày 02/10/2011 và cháu Nguyễn Tuấn P – Sinh ngày 04/12/2013. Ly hôn anh xin được trực tiếp nuôi dưỡng hai con và yêu cầu chị M cấp dưỡng tiền nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung và công nợ chung: Anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Cung cấp của chính quyền địa phương:
Từ năm 2022 đến nay anh Nguyễn Văn H đăng ký tạm trú tại S phố T, phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa do phố T quản lý. Được biết do mâu thuẫn vợ chồng nên anh H đang thêu nhà sinh sống ở địa phương nhưng chị M không sống chung cùng anh H. Nay anh, chị xin ly hôn đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: vợ chồng có 02 con chung cháu Nguyễn Thị Khánh C và cháu Nguyễn Tuấn P. Nay anh, chị ly hôn đề nghị Toà án xem xét việc giao người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa chị M vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, anh H vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
Đại diện VKS phát biểu ý kiến trong quá trình giải quyết vụ án thẩm phán, hội đồng xét xử, thư ký, nguyên đơn đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do, nên đề nghị Tòa án căn cứ vào khoản 1 Điều 207; điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS để xét xử. Về yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của chị Hoàng Thị M.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Hoàng Thị M khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, là quan hệ tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn H cư trú tại thành phố T, nên Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh Nguyễn Văn H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng, nhưng vắng mặt tại phiên hòa giải, vắng mặt tại phiên tòa; nên căn cứ khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử.
[2] Về hôn nhân: Chị Hoàng Thị M, anh Nguyễn Văn H kết hôn với nhau có đăng ký kết hôn tại UBND phường N, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa là hôn nhân hợp pháp. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị M thấy rằng: Hôn nhân muốn tồn tại trước hết vợ chồng phải thương yêu, tin tưởng nhau và có trách nhiệm với nhau cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Qua xem xét lời khai của chị M cho thấy, sau khi kết hôn anh chị đã có thời gian đầu chung sống hạnh phúc, nhưng thời gian đó chỉ tồn tại được thời gian đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hoà hợp, quan điểm cách sống luôn trái ngược nhau, ngoài ra anh H còn chơi bời cờ bạc, nghiện ngập, nợ nần chồng chất, từ đó mâu thuẫn triền miên xảy ra và ngày càng trầm trọng. Bản thân anh H cũng thừa nhận mâu thuẫn vợ chồng phát sinh từ 2019 và vợ chồng sống ly thân nhau từ đó đến nay nhưng anh mong muốn vợ chồng quay về đoàn tụ. Tuy nhiên kể từ khi thụ lý vụ án cho đến thời điểm hiện nay, toà án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng anh H không có mặt để hoà giải. Điều đó cho thấy anh H không có ý thức níu kéo lại hạnh phúc gia đình mà mặc nhiên để chị M đơn phương ly hôn. Mặt khác thu thập chứng cứ tại địa phương thể hiện kể từ năm 2022 đến nay anh H chỉ ở một mình, phù hợp với lời khai của các bên vợ chồng đã sống ly thân nhau từ năm 2019 đến nay không ai quan tâm đến ai. Từ sự phân tích như trên có đủ cơ sở xác định, tình trạng mâu thuẫn giữa chị Hoàng Thị M, anh Nguyễn Văn H đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo
dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của chị M xử cho chị được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
[3] Về con chung: Chị Hoàng Thị M, anh Nguyễn Văn H có 02 con chung, cháu Nguyễn Thị Khánh C – Sinh ngày 02/10/2011 và cháu Nguyễn Tuấn P – Sinh ngày 04/12/2013. Chị M, anh H đều có nguyện vọng được trực tếp nuôi dưỡng cả 02 con. Ý kiến lời khai của hai cháu Khánh C và Tuấn P xin được ở với mẹ. Tuy nhiên anh Nguyễn Văn H, chị Hoàng Thị M đều là lao động tự do, đều có nơi ở, quyêng, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con chưa thành niên là như nhau. Mặt khác anh, chị có 02 con chung nên nếu giao hai cháu cho anh H hoặc chị M trực tiếp nuôi dưỡng sẽ không đảm bảo việc chăm sóc các cháu. Do đó căn cứ Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình giao cháu Khánh C cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tuấn P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản: Chị M, anh H không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Hoàng Thị M phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27, khoản 1. 1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án
Về hôn nhân: Xử cho chị Hoàng Thị M được ly hôn anh Nguyễn Văn H.
Về con chung: Công nhận cháu cháu Nguyễn Thị Khánh C – Sinh ngày 02/10/2011 và cháu Nguyễn Tuấn P – Sinh ngày 04/12/2013 là con chung của chị Hoàng Thị M, anh Nguyễn Văn H. Giao cháu Khánh C cho chị M trực tiếp nuôi dưỡng, giao cháu Tuấn P cho anh H trực tiếp nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung.
Anh H, chị M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.
Về tài sản, công nợ: Tòa án không xem xét giải quyết.
Án phí: Chị Hoàng Thị M phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ chị đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0001573 ngày 30/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa (chị M đã nộp đủ tiền án phí).
Chị Hoàng Thị M có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Nguyễn Văn H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ nhận được hoặc ngày niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hào |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án HNGĐ
