Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ NGHI SƠN

TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 21 - 5 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Ngọc Sơn

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Thế Hải

Bà Nguyễn Thị Sen

- Thư ký phiên tòa : Ông Phạm Viết Chiến – Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Duyến – Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 27/2024/TLST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2024/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Đậu Đức A, sinh ngày 12 tháng 8 năm 1988 tại H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: tiểu khu A, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đậu Đức H và bà Đặng Thị H1; có vợ là Nguyễn Thị H2 (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2012.

    Tiền án: Ngày 28/4/2021 bị Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xử phạt 10 tháng tù về tội cố ý gây thương tích theo bản án số 190/2021/HS-PT. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/01/2022.

    Tiền sự: Không.

    Nhân thân:

    • Ngày 15/3/2007 bị Tòa án nhân dân huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, về tội cố ý làm hư hỏng tài sản.
    • Ngày 30/10/2015 bị Công an huyện T xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã N. Có mặt.

  2. Trần Văn T, sinh ngày 06 tháng 8 năm 2001 tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: Thôn V, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn L (đã chết) và bà Nguyễn Thị T1; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/11/2023, hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thị xã N. Có mặt.

  3. Trịnh Văn Q, sinh ngày 03 tháng 10 năm 2003 tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: Thôn N, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Văn T2 và bà Nguyễn Thị H3; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 28/02/2024, đến ngày 09/4/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt.

  4. Nguyễn Văn N, sinh ngày 29 tháng 5 năm 1987 tại phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: TDP Đ, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H4 và bà Hoàng Thị X; có vợ là Lê Thị C và 03 con, con lớn sinh năm 2013, con nhỏ sinh năm 2016.

    Là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

  5. Mạch Thọ Thiết, sinh ngày 20 tháng 4 năm 1993 tại xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nơi cư trú: Thôn N, xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

    Nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mạch Thọ T3 và bà Vũ Thị L1; bị cáo chưa có vợ, con.

    Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án – người làm chứng:

Ông Hà Văn S, sinh năm 1962 và bà Hồ Thị N1, sinh năm 1965

Nơi cư trú: TDP Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Vi Thị O, sinh năm 2002

Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An.

- Người làm chứng:

  • Anh Hà Văn Đ, sinh năm 1994
  • Anh Mai Trọng H5, sinh năm 1997
  • Bà Lê Thị H6, sinh năm 1971
  • Bà Cao Thị T4, sinh năm 1971
  • Anh Mai Xuân T5, sinh năm 1983
  • Anh Hà Văn T6, sinh năm 1995
  • Ông Mai Đắc Đ1, sinh năm 1962
  • Ông Mai Xuân T7, sinh năm 1940

Cùng cư trú tại: TDP Đ, phường N, thị xã N, Thanh Hóa.

Tại phiên tòa có mặt các bị cáo; vắng mặt tất cả người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và những người làm chứng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 22/12/2022, Đậu Đức A tổ chức sinh nhật tại quán ăn 262 ở cùng tiểu khu phố và có mời bạn bè đến dự. Tại đây, Đậu Đức A có gặp anh Hà Văn Đ (Sinh năm 1994, trú tại tổ dân phố Đ, phường N, thị xã N), do trước đó giữa Đức A và Hà Văn H7 (em trai của anh Đ) có mâu thuẫn nên Đức A nói anh Đ bảo H7 gọi lại cho mình để nói chuyện. Đến khoảng 00 giờ ngày 23/12/2022, sau khi ăn uống xong, Đức A cùng Trần Văn T, Mạch Thọ T8, Nguyễn Văn N và một số người bạn khác của Đức A đi về quán bi- a Phố Còng của gia đình Đức A ở thôn Đ, xã H, thị xã N chơi bi - a, lúc này H7 gọi lại nói chuyện với Đức A, thì hai bên xảy ra cãi vã, thách thức đánh nhau qua điện thoại. Sau khi kết thúc cuộc gọi, Đức A rủ mọi người đi đến nhà H7 để tìm đánh H7. Khi đi, Đức A, T, N, T8, mỗi người lấy một đoạn gậy bi a ở quán mang theo. Trên đường đi, còn có thêm Trịnh Văn Q, Lê Cường M (Sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã N) và một số người nữa cùng đi, trong đó có Q cầm theo gậy bóng chày. Cả nhóm đi đến khu vực quán cháo vịt gần cổng Bệnh viện Đ2, thì Đức A nhờ Nguyễn Tiến M1 (Sinh năm 2000, trú tại tổ dân phố S, phường N, thị xã N) đi cùng để chỉ đường. Khi đến gần nhà H7, các đối tượng dừng xe ngoài đường Tổ dân phố rồi đi vào nhà H7, đứng ngoài cổng chửi bới, hò hét gọi H7 ra, sau đó đẩy cửa đi vào sân, tiếp tục chửi bới, hò hét. Khi thấy anh Đ (anh trai H7) từ trong nhà đi ra, thì Đức A, T, N, T8 và Q cầm theo hung khí xông lại đánh anh Đ, thấy vậy anh Đ chạy vào trong nhà, đóng cửa lại, thì T dùng gậy bi a đập vào cửa, làm vỡ kính cửa phòng, sau đó một số đối tượng còn đập, làm hư hỏng kính chắn gió trước của chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA THACO, biển kiểm soát 36C-187.80 của gia đình H7 đang dừng đỗ trong sân. Thấy giữa đêm khuya có số đông đối tượng thanh niên mang hung khí đến nhà chửi bới, lùa đánh con mình và đập phá tài sản nên bố mẹ H7 là ông Hà Văn S và bà Hồ Thị N1 hô hoán mọi người đến cứu giúp, thì các đối tượng ra lấy xe mô tô đi về. Quá trình lùa đuổi, chửi bới, la hét, đập phá tài sản trước cổng và trong nhà gia đình ông S bà N1 diễn ra rất lộn xộn, trong khoảng thời gian 20 phút gây náo loạn giữa đêm, làm mất trật tự trong khu dân cư, đồng thời một số đối tượng còn cầm theo hung khí nguy hiểm như gậy B-a, gậy bóng chày tìm kiếm anh H7 để đánh và lùa đuổi đánh anh Đ đã gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho gia đình ông S bà N1 và nhiều hộ dân sinh sống quanh khu vực, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.

Quá trình điều tra đã chứng minh, làm rõ hành vi phạm tội cụ thể của các bị cáo như sau:

Đậu Đức A là người khởi xướng, rủ rê các đối tượng đi tìm Hà Văn H7 để đánh, sau đó Đức A cùng với cả nhóm đi xe môtô, mang theo hung khí là gậy bi a và gậy bóng chày đi từ quán B1-a ở xã H qua phường H đến nhà Hà Văn S ở phường N; khi đến nơi, Đức A cùng với T8, T, N, Q có hành vi la hét, chửi bới và sử dụng 01 đoạn gậy bi-a lùa đuổi đánh Hà Văn Đ.

Trần Văn T cầm theo 01 đoạn gậy B-a đi cùng nhóm đối tượng trên từ quán B1-a ở xã H qua phường H đến nhà ông Hà Văn S để tìm đánh H7; khi đến nơi T8 cùng với Đức A, T, N, Q có hành vi la hét, chửi bới, lùa đuổi đánh Hà Văn Đ và trực tiếp đập cửa kính phòng ngủ nhà ông S.

Trịnh Văn Q cầm theo 01 gậy Bóng chày đi cùng nhóm đối tượng trên từ quán B1-a ở xã H qua phường H đến nhà ông Hà Văn S để tìm đánh H7; khi đến nơi Q cùng với Đức A, T, N, T8 có hành vi la hét, chửi bới, lùa đuổi đánh Hà Văn Đ.

Nguyễn Văn N cầm theo 01 gậy Bi-a đi cùng nhóm đối tượng trên từ quán B1-a ở xã H qua phường H đến nhà ông Hà Văn S để tìm đánh H7; khi đến nơi, N trực tiếp đẩy cửa cổng để các đối tượng chạy vào trong sân và cùng với Đức A, T, Q, T8 có hành vi la hét, chửi bới, lùa đuổi đánh Hà Văn Đ.

Mạch Thọ T8 cầm theo 01 gậy Bi-a đi cùng nhóm đối tượng trên từ quán B1-a ở xã H qua phường H đến nhà ông Hà Văn S để tìm đánh H7; khi đến nơi T8 cùng với Đức A, T, Q, N có hành vi la hét, chửi bới và chạy vào trong sân lùa đuổi đánh Hà Văn Đ.

Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐGTS, ngày 02/3/2023, Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự UBND thị xã N, kết luận: 01 tấm kính chắn gió phía trước của xe ô tô BKS 36C-187.80 nhãn hiệu THACO (ký hiệu KIA LAMINATED SAFERY GLASS 43R-000713), loại ô tô tải, màu xanh, được sử dụng từ tháng 10/2016 (theo đăng ký lần đầu), có kích thước (1,5x0,7)m có giá trị bị thiệt hại là 1.050.000 đồng và 01 tấm kính cửa có kích thước (1,1x0,35)m dày 0,4cm có giá trị bị thiệt hại là 250.000 đồng. Tổng giá trị tài sản bị thiệt hại là 1.300.000 đồng.

Về hành vi đập phá kính cửa phòng ngủ và kính chắn gió xe ô tô của gia đình ông Hà Văn S, quá trình điều tra xác định Trần Văn T là người trực tiếp cầm gậy bi-a đập kính cửa phòng ngủ, còn cửa kính chắn gió của xe ô tô thì không xác định được đối tượng nào đập phá. Kết quả định giá xác định thiệt hại tài sản của gia đình ông S bị đập phá dưới 02 triệu đồng nên hành vi của Trần Văn T và các đối tượng có liên quan chưa cấu thành tội Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Tuy nhiên, hành vi này của T và các đối tượng được xem xét là tình tiết định khung tăng nặng “...có hành vi phá phách” đối với các bị cáo theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật Hình sự.

Đối với Nguyễn Tiến M1, đã có hành vi đi cùng để dẫn đường cho nhóm của Đức A đến nhà anh H7, tuy nhiên khi nhóm của Đức A đến nơi thì M1 đã ra về trước và không tham gia gây rối tại khu vực nhà ông Hà Văn S nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Trương Văn M2, quá trình điều tra xác định M2 chỉ có mặt tại khu vực gia đình nhà ông S, bà N1 thời điểm các đối tượng chuẩn bị ra về và không tham gia gây rối nên không có căn cứ để xử lý.

Cũng trong quá trình điều tra còn xác định ngoài các bị cáo và đối tượng nêu trên, thì còn có các đối tượng Phạm Ngọc H8 (Sinh năm 1988, trú tại tổ dân phố V, phường N, thị xã N), Lê Cường M (Sinh năm 1999, trú tại tổ dân phố H, phường H, thị xã N), Nguyễn Viết M3 (Sinh năm 1993, trú tại thôn Đ, xã H, thị xã N), Võ Văn N2 (Sinh năm 1989, trú tại tiểu khu B, phường H, thị xã N) cũng có mặt tại nơi xảy ra vụ việc, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh triệu tập các đối tượng đến làm việc, tuy nhiên các đối tượng không có mặt ở địa phương nên không thu thập được lời khai. Quá trình điều tra cũng không có tài liệu, chứng cứ nào xác định các đối tượng trên có hành vi tham gia gây rối tại khu vực nhà ông Hà Văn S nên không có căn cứ để xử lý.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ được các vật chứng sau:

  • 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng, BKS 37C1- 224.51, đã qua sử dụng (Do Trịnh Văn Q giao nộp).
  • 01 cây gậy bóng chày bằng kim loại, hình trụ tròn màu đen, dài 70cm, chỗ lớn nhất có đường kính 5cm, chỗ nhỏ nhất có đường kính 2,5 cm, đã qua sử dụng (Do Trịnh Văn Q giao nộp).
  • 02 đoạn gậy bi-a dạng hình trụ, bằng gỗ, đã qua sử dụng, dài 73,5 cm, chỗ to nhất có đường kính 02 cm, chỗ nhỏ nhất có đường kính 1,3 cm, và 01 đoạn gậy bi-a, dạng hình trụ, bằng gỗ, đã qua sử dụng, dài 73,5 cm, chỗ to nhất có đường kính 03 cm, chỗ nhỏ nhất là 01 đoạn ốc vít bằng kim loại có đường kính 0,6 cm, dài 2 cm, bọc vỏ kim loại màu sáng (Do Đậu Đức A giao nộp).

Hiện các vật chứng trên đang được bảo quản chờ xử lý theo quy định.

Đối với các xe mô tô khác mà các bị cáo sử dụng để đi đến phường N thực hiện hành vi phạm tội, do các bị cáo khai mượn của khách đánh B -a, sau khi đi về đã trả lại cho khách và không nhớ là mượn của ai nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã N không thu giữ được.

Về bồi thường thiệt hại:

Gia đình anh ông Hà Văn S bà Hồ Thị N1 yêu cầu các bị cáo bồi thường toàn bộ giá trị tài sản bị thiệt hại, Các bị cáo đã nhờ anh Đậu Đức H9, sinh năm 1991; Địa chỉ: TK1, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa thay mặt các bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bà N1 với số tiền là 1.300.000 đồng

Tại bản Cáo trạng số 53/CT-VKSNS, ngày 18/3/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đã truy tố các bị cáo về tội “ Gây rối trật tự công cộng" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng:

  • Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đậu Đức A. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn T, Trịnh Văn Q, Nguyễn Văn N và Mạch Thọ T8.
  • Tuyên bố các bị cáo phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
  • Đề nghị xử phạt Đậu Đức A từ 27 tháng đến 30 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam.
  • Đề nghị xử phạt các bị cáo Trần Văn T, Trịnh Văn Q, Nguyễn Văn N và Mạch Thọ T8 mỗi bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • Về bồi thường thiệt hại: Đối với thiệt hại về tài sản của gia đình bà Hồ Thị N1, Các bị cáo đã nhờ anh Đậu Đức H9, sinh năm 1991; Địa chỉ: TK1, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bà N1 với số tiền là 1.300.000 đồng, bà N1 đã nhận tiền không có yêu cầu đề nghị gì, nên không xem xét.
  • Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy vật chứng của vụ án gồm 01 cây gậy bóng chày bằng kim loại và 03 đoạn gậy bi-a dạng hình trụ, bằng gỗ.
  • Trả lại cho chị Vi Thị O 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng, BKS 37C1- 224.51.
  • Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi gây rối trật tự công cộng như Cáo trạng đã truy tố; các bị cáo không tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên. Lời nói sau cùng các bị cáo ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thị xã N, Điều tra viên. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[2] Căn cứ định tội, định khung hình phạt đối với các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 00 giờ ngày 23/12/2022, tại tổ dân phố Đ, phường N, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa; Đậu Đức A, Trần Văn T, Trịnh Văn Q, Nguyễn Văn N và Mạch Thọ T8 có hành vi hò hét, chửi bới, xô đẩy cửa xông vào nhà bà Hồ Thị N1 và ông Hà Văn S, sử dụng hung khí là gậy bi a và gậy bóng chày lùa đuổi đánh anh Hà Văn Đ và đập phá tài sản trị giá 1.300.000 đồng của gia đình bà N1, ông S, làm náo loạn khu dân cư T, phường N trong khoảng thời gian 20 phút, gây mất trật tự nơi công cộng, gây tâm lý hoang mang, lo sợ cho gia đình ông Hà Văn S và những người dân sinh sống quanh khu vực, ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự tại địa phương.

Hành vi nêu trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội gây rối trật tự công cộng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Nghi Sơn đối với các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của các bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến trật tự công cộng, hành vi dùng hung khí, hò hét, đập phá tài sản của gia đình bà Hồ Thị N1 diễn ra trong thời gian dài, làm mất trật tự trị an trên địa bàn, gây hoang mang, lo lắng và bức xúc trong quần chúng Nhân dân tại khu dân cư, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục, trừng trị các bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

[4] Đánh giá tính chất đồng phạm và vai trò của các bị cáo:

Tính chất của đồng phạm là giản đơn các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, bị cáo Đậu Đức A là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác tham gia, bị cáo là người thực hành trực tiếp thực hiện hành vi gây rối trật tự công cộng, nên có vai trò cao nhất; các bị cáo khác là đồng phạm với vai trò là người thực hành nên có vai trò thứ hai.

[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về nhân thân: Bị cáo Đậu Đức A là người có nhân thân xấu. Các bị cáo khác đều là người có nhân thân tốt không có tiền án, tiền sự.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Đậu Đức A đã bị kết án chưa được xóa án tích lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Các bị cáo khác không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối; Các bị cáo khi tham gia gây rối trật tự công cộng đã có hành vi phá phách gây thiệt hại về tài sản cho gia đình bà Hồ Thị N1. Sau khi phạm tội các bị cáo đã nhờ anh Đậu Đức H9, sinh năm 1991; Địa chỉ: TK1, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa thay mặt các bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bà N1. Nên các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b và điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra, Nguyễn Văn N đã từng tham gia nghĩa vụ quân sự, sau khi xuất ngũ về địa phương được bầu làm Bí thư Chi đoàn và có nhiều thành tích xuất sắc được Ban Chấp hành Đoàn TNCSHCM huyện T và UBND xã H, huyện T tặng thưởng giấy khen, tích cực tham gia ủng hộ quỹ Hội nạn nhân chất độc màu da cam, quỹ Khuyến học và trao quà ủng hộ chương trình "Tết vì người nghèo" và có bố đẻ là người có công với Cách mạng; bị cáo Mạch Thọ T8 tham gia ủng hộ hộ quỹ Người khuyết tật và trẻ em mồ côi và quỹ Khuyến học tại địa phương và có bố là người có công với Cách mạng; Trịnh Văn Q và Trần Văn T tham gia ủng hộ quỹ Hội nạn nhân chất độc màu Da cam, quỹ người khuyết tật và trẻ em mồ côi và quỹ nhân đạo tại địa phương nên các bị cáo N, T, Q và T8 còn được hưởng thêm các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về quyết định hình phạt: Trên cơ sở đánh giá tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:

Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Đậu Đức A là người khởi xướng, trực tiếp thực hiện hành vi gây rối, bị cáo là người có nhân thân xấu, đã bị kết án nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện bản thân, mà lại phạm tội nghiêm trọng hơn, chứng tỏ bị cáo không có khả năng tự cải tạo nên cần thiết phải cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định để giáo dục và trừng trị các bị cáo và răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.

Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn N, Trịnh Văn Q và Mạch Thọ T8 là người có nhân thân tốt, các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, nên không cần phải bắt bị cáo T, N, Q và T8 phải chấp hành hình phạt tù, mà cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ giáo dục các bị cáo trở thành người tốt. Việc cho bị cáo T, N, Q và T8 hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

[6] Về bồi thường thiệt hại: Đối với thiệt hại về tài sản của gia đình bà Hồ Thị N1, Các bị cáo đã nhờ anh Đậu Đức H9, sinh năm 1991; Địa chỉ: TK1, phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa thay mặt các bị cáo bồi thường toàn bộ thiệt hại cho gia đình bà N1 với số tiền là 1.300.000 đồng, bà N1 đã nhận tiền không có yêu cầu đề nghị gì, nên không xem xét.

[7] Xử lý vật chứng:

  • Đối với 01 cây gậy bóng chày bằng kim loại và 03 đoạn gậy bi-a dạng hình trụ, bằng gỗ là công cụ phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu, tiêu hủy.
  • Đối với 01 xe môtô nhãn hiệu Honda Wave alpha, màu trắng, BKS 37C1- 224.51 của chị Vi Thị O cho Trương Văn M2, sinh năm 1996; nơi cư trú: thôn N, xã H, thị xã N (là anh rể chị O) mượn để sử dụng, ngày 23/12/2023 Trịnh Văn Q sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi đến nhà bà Hồ Thị N1, chị O không biết và không có lỗi, nên trả lại chiếc xe này cho chị O

[8] Về án phí: các bị cáo bị kết án, không thuộc trường hợp được miễn án phí nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17; Điều 58 và Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đậu Đức A. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 318; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 và Điều 65 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn N, Trịnh Văn Q và Mạch Thọ T8.
  2. Tuyên bố các bị cáo Đậu Đức A, Trần Văn T, Nguyễn Văn N, Trịnh Văn Q và Mạch Thọ T8, phạm tội Gây rối trật tự công cộng.
  3. Về hình phạt:
    • - Xử phạt Đậu Đức A 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 06 tháng 11 năm 2023.
    • - Xử phạt Trần Văn T 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Trả tự do ngay tại phiên tòa cho bị cáo Trần Văn T nếu không bị tạm giam về một tội phạm khác.
    • - Xử phạt Nguyễn Văn N 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Xử phạt Trịnh Văn Q 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • - Xử phạt Mạch Thọ T8 24 (hai mươi tư) tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 48 (bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
    • Giao các bị cáo Trần Văn T, Trịnh Văn Q và Mạch Thọ T8 cho UBND xã H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Giao bị cáo Nguyễn Văn N cho UBND phường H, thị xã N, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách; Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
  4. Xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 cây gậy bóng chày bằng kim loại, hình trụ tròn màu đen, dài 70cm, chỗ lớn nhất có đường kính 5cm, chỗ nhỏ nhất có đường kính 2,5 cm.
    • - Tịch thu, tiêu hủy 02 đoạn gậy bi-a dạng hình trụ, bằng gỗ, đã qua sử dụng, dài 73,5 cm, chỗ to nhất có đường kính 02 cm, chỗ nhỏ nhất có đường kính 1,3 cm và 01 đoạn gậy bi-a, dạng hình trụ, bằng gỗ, đã qua sử dụng, dài 73,5 cm, chỗ to nhất có đường kính 03 cm, chỗ nhỏ nhất là 01 đoạn ốc vít bằng kim loại có đường kính 0,6 cm, dài 2 cm, bọc vỏ kim loại màu sang.
    • - Trả lại cho chị Vi Thị O, sinh năm 2002; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện C, tỉnh Nghệ An 01 xe môtô 02 bánh, nhãn hiệu Honda loại xe Wave alpha, màu trắng, BKS 37C1- 224.51, dung tích 109cm³, số khung: RLHJA 392XNY009532, số máy: JA39E- 2505660.
    • ( Các vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng và Phiếu nhập kho số NK2024/62 ngày 26/3/2023 giữa Cơ quan CSĐT Công an thị xã N và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Nghi Sơn).
  5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Đậu Đức A, Trần Văn T, Trịnh Văn Q, Nguyễn Văn N và Mạch Thọ T8 mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKSND thị xã Nghi Sơn;
  • - CQCSĐT CA thị xã Nghi Sơn;
  • - THADS thị xã Nghi Sơn;
  • - Bị cáo;
  • - Người có QL,NVLQ;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Ngọc Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA về hình sự sơ thẩm về tội gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ NGHI SƠN, TỈNH THANH HÓA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đậu Đức A gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger