TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM TỈNH KON TUM Bản án số: 66/2025/HS-ST Ngày 28 - 5 - 2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Chế Thị Mai và bà Lê Thị Ngọc Phượng.
Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Hòa – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 50/2025/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:
A T,
(Tên gọi khác: Không), sinh ngày 04/01/2002 tại Kon Tum; Nơi cư trú: Thôn P, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hoá: 6/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Công giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông A K (Đã chết) và bà Y J, sinh năm 1977; Bị cáo có vợ là Siu T1, sinh năm 2000 và có 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 22/11/2018, bị Công an thành phố K xử phạt hành chính bằng hình thức phạt tiền 750.000 đồng về hành vi trộm cắp tài sản (Đã chấp hành xong); Ngày 25/01/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 06 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” và ngày 06/9/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Cả hai lần phạm tội và bị kết án A T đều chưa đủ 18 tuổi nên thuộc trường hợp không có án tích; Ngày 05/3/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Kon Tum xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS (Đã xóa án tích). Bị bắt tạm giam từ ngày 27/12/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh A G, sinh ngày 06/6/2003.
Địa chỉ: Thôn P, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Anh Trịnh Ngọc Q, sinh năm 1991.
- Ông A G1, sinh năm 1979,
- Anh Nguyễn Duy K1, sinh năm 1988,
Nơi cư trú: C C, tổ D, phường T, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt).
Nơi cư trú: Thôn P, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Có mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã K, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt).
- Người làm chứng: Anh Siu L, sinh năm 2002.
Nơi cư trú: Nơi cư trú: Làng K, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 21 giờ, một ngày giữa tháng 9/2024, A T cùng Đinh Xuân Q1 đến nhà bạn là A T2 để uống rượu nhưng không có A T2 ở nhà nên ngồi uống rượu với A M (Là em ruột của A T2) và A Q2, A G cùng trú Thôn P, xã I, thành phố K, tỉnh Kon Tum. Vì hết rượu nên A T mượn xe mô tô biển số 82E-202.47 của A G đi mua rượu cùng Đinh Xuân Q1. Do đêm khuya, quán đóng cửa không mua được rượu nên Q1 nói với A T “Có chỗ nào cầm cố xe không” thì A T nảy sinh ý định chiếm đoạt xe của A G đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Vì không biết chỗ cầm cố xe nên A T điều khiển xe chở Đinh Xuân Q1 đến phòng trọ của bạn là Siu L tại đường H, phường Q, thành phố K, tỉnh Kon Tum để hỏi chỗ đi cầm cố xe. Khi đến nơi, Đinh Xuân Q1 ở lại phòng trọ của Siu L đợi còn A T theo chỉ dẫn của Siu L điều khiển xe mô tô 82E1-202.47 chở Siu L đến nhà anh Trịnh Ngọc Q để hỏi cầm cố xe cho Trịnh Ngọc Q. Vì Q không làm dịch vụ cầm đồ nên Q chỉ đồng ý cho A T mượn tiền với điều kiện phải để xe mô tô 82E1-202.47 lại làm tin thì A T đồng ý. Quyền có hỏi nguồn gốc và giấy tờ xe thì A T nói là xe của nhà, do tin tưởng nên Q đồng ý cho A T mượn số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng), A T viết giấy mượn tiền cam kết 05 (Năm) ngày sẽ trả, rồi để xe lại. Sau đó, A T và Siu L đi về phòng trọ A T nói cho Q1 biết việc cầm cố xe cho Q và cùng Q1 tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Đến ngày hôm sau, A G yêu cầu A T trả lại xe mô tô 82E-202.47 thì A T nói dối A G là xe mô tô 82E-202.47 đã bị Công an bắt nên chưa trả lại được. Khoảng 10 ngày sau, A T tiếp tục đến gặp Trịnh Ngọc Q lấy thêm 500.000đ (Năm trăm nghìn đồng) và nói Trịnh Ngọc Q tự thanh lý xe do không có tiền lấy xe. Sau nhiều lần liên lạc với A T để đòi xe không được nên đến ngày 20/10/2024, A G làm đơn trình báo đến Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum. Quá trình thụ lý điều tra đến ngày 22/10/2024, Trịnh Ngọc Q đã tự nguyện giao nộp xe mô tô có gắn BKS 82E1-202.47, nhãn hiệu Exciter, màu đen tình trạng đã bị cà phá số khung, số máy cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố K, tỉnh Kon Tum.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 68/KL-HĐ, ngày 24/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong TTHS thành phố K xác định: 01 (Một) xe mô tô 82E1-202.47, có số khung: 1010KY204587; Số máy: G3D4E974018 tại thời điểm bị chiếm đoạt tháng 9/2024 có giá trị là: 20.674.500 đồng (Hai mươi triệu, sáu trăm bảy mươi bốn nghìn, năm trăm đồng).
Kết luận giám định số 1082/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh G, kết luận: Xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, số loại Exciter, gắn BKS 82E1-202.47:
- * Trước giám định
- - Số khung: Bị đục phá, không đọc được các ký tự chữ, số.
- - Số máy: Bị đục phá, không đọc được các ký tự chữ, số.
- * Sau giám định
- - Số khung: Xác định được các ký tự chữ, số nguyên thuỷ: RLCUG1010KY110864.
- - Số máy: Xác định được các ký tự chữ, số nguyên thuỷ: G3D4*877**2; Vị trí ký hiệu “*” bị đục phá lõm sâu, không xác định được ký tự chữ, số nguyên thuỷ.
Ngày 14/01/2025, Phòng K2 - Công an tỉnh K có Kết luận giám định số 07/KL-KTHS, kết luận: Biển số số 82E1-202.47 (biển số gắn với xe mô tô Trịnh Ngọc Q giao nộp) là thật.
Việc thu giữ đồ vật, tài liệu và xử lý vật chứng:
- - 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen tình trạng đã bị cà phá số khung, số máy. (Qua giám định xác định: Số khung: Xác định được các ký tự chữ, số nguyên thuỷ: RLCUG1010KY110864; Số máy: Xác định được các ký tự chữ, số nguyên thuỷ: G3D4*877**2; Vị trí ký hiệu “*” bị đục phá lõm sâu, không xác định được ký tự chữ, số nguyên thuỷ), được xác định là xe của anh Nguyễn Duy K1 bị mất. Cơ quan CSĐT (PC01) - Công an tỉnh K tiếp tục bảo quản tại kho vật chứng để thụ lý trong một vụ việc khác.
- - 01 (Một) BKS 82E1-202.47 (Biển số gắn với xe Trịnh Ngọc Q giao nộp) chờ xử lý.
Đối với xe mô tô của A G có số khung: 1010KY204587; Số máy: G3D4E974018 được xác định là xe mang tên ông Vũ Văn T3 do ông A G mua tại đại lý xe máy cũ H do ông Nguyễn Quang P làm chủ chưa sang tên, có BKS 82E1-202.47, Cơ quan CSĐT Công an thành phố K đã ra Quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả.
Cáo trạng số 58/CT-VKSTPKT ngày 31/3/2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo A T về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum trình bày lời luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố như bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo A T từ 18 đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen tình trạng đã bị cà phá số khung, số máy. (Qua giám định xác định: Số khung: Xác định được các ký tự chữ, số nguyên thuỷ: RLCUG1010KY110864; Số máy: Xác định được các ký tự chữ, số nguyên thuỷ: G3D4*877**2; Vị trí ký hiệu “*” bị đục phá lõm sâu, không xác định được ký tự chữ, số nguyên thuỷ) tiếp tục bảo quản tại kho vật chứng để thụ lý trong một vụ việc khác;
Đối với 01 (Một) BKS 82E1-202.47 (Biển số gắn với xe Trịnh Ngọc Q giao nộp) trả lại cho bị hại A G.
Đối với xe mô tô của A G có số khung: 1010KY204587; Số máy: G3D4E974018, Cơ quan CSĐT Công an thành phố K đã ra Quyết định truy tìm nhưng đến nay chưa có kết quả, khi nào có kết quả sẽ giải quyết sau.
Về trách nhiệm dân sự: Giải quyết khi truy tìm được xe của anh A G có số khung: 1010KY204587; Số máy: G3D4E974018.
Bị hại yêu cầu nhận lại xe; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan theo lời khai có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa không ai yêu cầu giải quyết vấn đề gì về dân sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an thành phố K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Qua phần xét hỏi công khai tại phiên tòa hôm nay bị cáo A T khai nhận: Khoảng giữa tháng 09/2024, A T có mượn xe mô tô biển kiểm soát 82E1-202.47 của A G để đi mua rượu, sau khi mượn được xe, do thiếu tiền tiêu xài, A T nảy sinh ý định chiếm đoạt bằng việc đem xe mô tô trên của A G đặt làm tin chỗ Trịnh Ngọc Q để lấy số tiền tổng cộng 4.000.000 đồng và nói với A G là xe mô tô 82E-202.47 đã bị Công an bắt nên chưa trả lại được, giá trị xe được định giá là: 20.674.500 đồng (Hai mươi triệu, sáu trăm bảy mươi bốn nghìn, năm trăm đồng).
[3] Xét, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các chứng cứ như biên bản lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
[4] Khi thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bị cáo là người đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý, bị cáo đã lợi dụng lòng tin của chủ sở hữu tài sản để mượn tài sản, nói dối bị Công án bắt xe để không trả, mà đem đi cầm cố lấy tiền tiêu xài cá nhân, giá trị tài sản chiếm đoạt là 20.674.500 đồng thuộc trường hợp “trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng”. Hành vi đó của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, do đó bị cáo đã phạm vào tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự. Cáo trạng nêu trên của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Kon Tum truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
[5] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.
Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, cần giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo thành người công dân sống có ích cho xã hội.
Xét về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án nhiều lần nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm để rèn luyện, tu dưỡng đạo đức thành người công dân tốt mà tiếp tục phạm tội. Do đó, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ để cải tạo giáo dục bị cáo thành người công dân sống biết tôn trọng pháp luật.
[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Trong vụ án này, có Đinh Xuân Q1 đi cùng A T (Theo lời khai của A T thì Q1 là người rủ rê A T chiếm đoạt xe mô tô của A G). Tuy nhiên, chỉ có lời khai của A T về việc nội dung này, hiện tại Đinh Xuân Q1, đã bỏ đi khỏi địa phương. Do đó Cơ quan điều tra chưa làm việc được nên đã tách vụ án đối với hành vi của Đinh Xuân Q1 để điều tra nếu có căn cứ xử lý sau là phù hợp.
- Đối với Siu L là người dẫn A T mang xe mô tô của A G đến vay tiền của Trịnh Ngọc Q nhưng Siu L không biết xe mô tô trên là do A T thực hiện hành vi phạm tội mà có, nên không có căn cứ để xử lý đối với Siu L là đúng.
- Đối với Trịnh Ngọc Q: Ngày 22/10/2024, Trịnh Ngọc Q đã giao nộp xe mô tô có gắn BKS 82E1-202.47, nhãn hiệu Exciter, màu đen tình trạng đã bị cà phá số khung, số máy cho Cơ quan CSĐT - Công an thành phố K. Qua xác minh xác định BKS 82E1-202.47 là thật; còn xe mô tô nhãn hiệu Exciter, màu đen tình trạng đã bị cà phá số khung, số máy được Trịnh Ngọc Q giao nộp là của anh Nguyễn Duy K1 (Sinh năm 1988, trú tại thôn T, xã K, thành phố K, tỉnh Kon Tum), bị mất vào ngày 09/10/2024 tại thôn T, xã K, thành phố K, tỉnh Kon Tum. (Xe có đặc điểm BKS: 82B1-956.42, nhãn hiệu Yamaha, số loại EXCITER, màu sơn: bạc- trắng- xanh; số máy: G3D4E877292, số khung RLCUG 1010KY110864). Quá trình làm việc, Q khai nhận là người cho A T mượn tiền và giữ lại xe mô tô mang BKS 82E1-202.47 để làm tin. Thời điểm cho mượn tiền và giữ xe lại làm tin, Quyền được T cho biết xe mô tô trên là xe của nhà nên tin tưởng đồng ý cho mượn tiền; Quyền không biết việc xe mô tô bị cà số khung, số máy và đã tráo đổi biển số xe nên tránh bỏ lọt tội phạm, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh K đã ra Quyết định tách hành vi và các tài liệu liên quan trong vụ án hình sự nhằm xác minh làm rõ các hành vi liên quan đến xe mô tô nêu trên nếu có căn cứ xử lý sau là phù hợp.
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo A T phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 175; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo A T 20 (Hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 27/12/2024.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại anh A G Biển số 82E1-202.47. Biên bản bàn giao vật chứng ngày 26/4/2025.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 30 Luật Tố tụng hình sự. Tách phần bồi thường dân sự khi có kết quả truy tìm xe có số khung 1010KY204587; Số máy G3D4E974018.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo A T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự, trong thời hạn mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án (28/5/2025) bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo để xin xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã Ký) Vũ Thị Hồng Dung |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 28/05/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ KON TUM - TỈNH KON TUM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tiến PT lạm dụng tín nhiệm CĐTS
