Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH LÂM ĐỒNG

Bản án số: 66/2025/DS-PT

Ngày: 15-4-2025

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

dân sự vay tài sản”.

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

Các Thẩm phán: Bà Vũ Thị Nguyệt

Ông Nguyễn Thành Tâm

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đạt Nguyên – Thư ký Tòa án, Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng: Bà Nguyễn Thị Thanh Hương – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 15 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng; xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 278/2024/TLPT-DS ngày 15 tháng 11 năm 2024 về tranh chấp: “Hợp đồng dân sự vay tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 510/2024/QĐ-PT ngày 02 tháng 12 năm 2024; các Quyết định hoãn phiên tòa phúc thẩm số 261/2024/QĐ-PT ngày 18 tháng 12 năm 2024, số 285/2024/QĐ-PT ngày 30 tháng 12 năm 2024, số 12/2025/QĐ-PT ngày 16 tháng 01 năm 2025 và số 34/2025/QĐ-PT ngày 26 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Trần Văn A, sinh năm 1968; cư trú tại thôn Q, xã M, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc. Có mặt.
  • - Bị đơn: Ông Đoàn Xuân S, sinh năm 1972; cư trú tại số G, đường P, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm 1989; địa chỉ liên hệ: Số C đường N, Phường G, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. Là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 14/02/2025). Có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Bùi Thị Mai L1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số G đường P, Phường I, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng. Hiện đang chấp hành hình phạt tù. Vắng mặt.

  • - Người kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng.
  • - Người kháng cáo: Bị đơn ông Đoàn Xuân S.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng nguyên đơn ông Trần Văn A trình bày:

Ông và ông Đoàn Xuân S là anh em rể. Ngày 24/6/2020 ông S có viết giấy xác nhận nợ với nội dung: “Anh Trần Văn A đã cho vợ chồng chúng tôi vay số tiền 2.500.000.000 đồng để vợ là Bùi Thị Mai L1 giải quyết khó khăn trong kinh doanh... Vợ chồng tôi có trách nhiệm trả lại cho anh Trần Văn A”. Do ông S không thanh toán số tiền trên nên ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông S phải thanh toán cho ông số tiền gốc và lãi là 3.516.750.000 đồng. Ông A khẳng định khoản vay này là khoản vay riêng của ông S, không liên quan bà Bùi Thị Mai L1.

- Bị đơn ông Đoàn Xuân S trình bày:

Ông không đồng ý với một phần yêu cầu khởi kiện của ông Trần Văn A mà cho rằng đây là khoản nợ chung của ông và vợ là bà L1, vì bà L1 là người hỏi vay tiền của ông A, sau khi ông A chuyển tiền vào tài khoản của ông S thì ông S đã rút ra và đưa toàn bộ số tiền vay cho bà L1 sử dụng, ông không giữ lại một đồng nào. Sau khi bà L1 bị bắt vào ngày 24/6/2020 thì ông A đã yêu cầu ông viết giấy nhận nợ và việc viết giấy nhận nợ này có sự chứng kiến của ông Đoàn Xuân Đ (cháu ruột của ông S), ông Trần Văn T (là anh em rể cùng ông A và ông S), ông Bùi Hữu T1 (anh trai của bà L1). Tại giấy nhận nợ ngày 24/6/2020 cũng thể hiện ông A biết rõ là tiền cho vay là để bà L1 sử dụng giải quyết khó khăn trong kinh doanh chứ ông S không có nhu cầu sử dụng số tiền vay.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Mai L1 trình bày:

Bà khẳng định giữa bà L1 và ông A chỉ có quan hệ gia đình chứ không có việc vay mượn tiền. Bà không vay mượn của ông A bất cứ khoản tiền nào. Việc ông S xác nhận với ông A về khoản nợ thì bà L1 không biết và không liên quan đến việc làm này.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn A đối với bị đơn ông Đoàn Xuân S.
  2. Buộc ông Đoàn Xuân S có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn A số tiền 3.313.400.000 đồng.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn A đối với bị đơn ông Đoàn Xuân S với số tiền 329.933.000 đồng.

Ngoài ra, Bản án còn tuyên về án phí, quyền kháng cáo và trách nhiệm thi hành án của các bên đương sự.

Ngày 14/10/2024 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng kháng nghị; ngày 08/10/2024 ông Đoàn Xuân S kháng cáo đều đề nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt.

Tại phiên tòa,

Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn là ông Nguyễn Tấn L vẫn giữ nguyên kháng cáo.

Ông Trần Văn A không đồng ý với kháng cáo của ông S, đề nghị giải quyết như bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng phát biểu về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và các đương sự tại giai đoạn phúc thẩm cũng như phiên tòa là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Về nội dung: Đề nghị chấp nhận kháng nghị hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 45/2024/DS-ST ngày 13/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Đà Lạt do Bản án sơ thẩm vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng là thu thập chứng cứ chưa đầy đủ, dẫn đến việc giải quyết nội dung vụ án chưa đảm bảo căn cứ, ảnh hưởng quyền lợi ích hợp pháp của một bên đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1]. Quan hệ tranh chấp giữa các bên đã được Tòa án cấp sơ thẩm xác định theo đúng quy định của pháp luật; đơn kháng cáo của ông Đoàn Xuân S, thủ tục kháng cáo được thực hiện đúng theo quy định tại các Điều 271, 272, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự nên đủ điều kiện để Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.

[2]. Qua xem xét kháng cáo của ông Đoàn Xuân S và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng thì thấy rằng:

[2.1]. Về tố tụng:

Việc thu thập tài liệu chứng cứ: Theo hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 254/2022/TLST-DS ngày 21/11/2022 của Toà án nhân dân thành phố Đà Lạt về việc tranh chấp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất và hồ sơ liên quan đến việc tố giác tội phạm của ông Trần Văn A đối với ông Đoàn Xuân S, bà Bùi Thị Mai L1 tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L thể hiện nội dung các vụ việc này không liên quan đến khoản vay 2.5000.000.000 đồng giữa ông A với bị đơn theo giấy nhận nợ ngày 24/6/2020.

[2.2]. Về nội dung: Theo giấy nhận nợ ngày 24/6/2020 mặc dù có ghi nội dung: “Anh Trần Văn A đã cho vợ chồng chúng tôi vay số tiền 2.500.000.000 đồng để vợ là Bùi Thị Mai L1 giải quyết khó khăn trong kinh doanh... Vợ chồng tôi có trách nhiệm trả lại cho anh Trần Văn A”; bị đơn ông S trình bày khoản nợ vay là nợ chung của ông với vợ là bà L1. Tuy nhiên giấy nhận nợ này không có chữ ký xác nhận của bà L1; nên nội dung này cũng chỉ thể hiện ý chí của ông A và ông S.

Ngoài ra hồ sơ cũng thể hiện ông S thừa nhận số tiền vay trên ông A đã chuyển vào tài khoản của ông S và ông S đã rút toàn bộ số tiền ra giao cho bà L1 để giải quyết khó khăn trong làm ăn nhưng ông S cũng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh việc đã giao số tiền này cho bà L1. Tại phiên tòa phúc thẩm người đại diện theo ủy quyền của ông S trình bày sau khi nguyên đơn chuyển tiền vào tài khoản của ông S thì bà L1 là người quản lý tài khoản của ông S đã rút tiền nhưng cũng không có chứng cứ chứng minh việc bà L1 rút khoản tiền nguyên đơn chuyển vào tài khoản ông S. Trong khi đó, bà L1 không thừa nhận bản thân có vay tiền của ông A và có nhận số tiền vay từ ông S, bà trình bày việc vay tiền là giữa ông A với ông S, không liên quan bà.

Như vậy, về tố tụng tuy sau khi xét xử sơ thẩm Toà án Đ mới thu thập hồ sơ liên quan đến việc tố giác tội phạm của ông A đối với ông S, bà L1 tại cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L. Tuy nhiên, hồ sơ này và hồ sơ vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 254/2022/TLST-DS ngày 21/11/2022 thể hiện không liên quan đến số tiền vay trong vụ án này, cũng không có căn cứ chứng minh bà L1 có vay tiền theo Giấy nhận nợ ngày 24/6/2020; nên các tài liệu này không làm thay đổi bản chất vụ việc. Vấn đề này Toà án cấp sơ thẩm cần rút kinh nghiệm. Về nội dung thì nguyên đơn chỉ khởi kiện ông S, xác định bà L1 không liên quan khoản vay; bị đơn cho rằng đây là nợ chung của vợ chồng nhưng không có chứng cứ chứng minh, bà L1 lại không thừa nhận nên không có cơ sở để xem xét.

[3]. Từ những phân tích trên, ông S kháng cáo nhưng không đưa ra được chứng cứ nào mới để làm thay đổi bản chất vụ án nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo của ông S và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng, giữ nguyên bản án sơ thẩm là phù hợp.

[4]. Về án phí: Do kháng cáo không được chấp nhận nên ông S phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Đoàn Xuân S và Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 28/QĐ-VKS-DS ngày 14/10/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Lâm Đồng; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn A về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản đối với bị đơn ông Đoàn Xuân S.
  2. Buộc ông Đoàn Xuân S có trách nhiệm trả cho ông Trần Văn A số tiền 3.313.400.000 (Ba tỷ ba trăm mười ba triệu bốn trăm nghìn) đồng, gồm 2.500.000.000 đồng tiền vay gốc và 813.400.000 đồng tiền lãi.

  3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Trần Văn A đối với bị đơn ông Đoàn Xuân S với số tiền 329.933.000 (Ba trăm hai mươi chín triệu chín trăm ba mươi ba) đồng.
  4. Về án phí:
    • - Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đoàn Xuân S phải chịu 98.268.000 (Chín mươi tám triệu hai trăm sáu mươi tám nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
    • Ông Trần Văn A được nhận lại số tiền 52.433.339 (Năm mươi hai triệu bốn trăm ba mươi ba nghìn ba trăm ba mươi chín) đồng tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000925 ngày 21/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
    • - Án phí dân sự phúc thẩm: Ông Đoàn Xuân S phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự phúc thẩm.
  5. Về nghĩa vụ thi hành án:

Kể từ ngày Bản án có hiệu lực pháp luật và kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án Dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành Án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án Dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Lâm Đồng (01);
  • - Phòng TT-Ktr & THA (01);
  • - TAND thành phố Đà Lạt (01);
  • - Chi cục THADS thành phố Đà Lạt (01);
  • - Các đương sự (03);
  • - Lưu: lưu trữ, hồ sơ vụ án (02).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Huỳnh Nguyễn Thanh Trúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/DS-PT ngày 15/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG về tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản

  • Số bản án: 66/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng dân sự vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 15/04/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LÂM ĐỒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger