Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN PHÚ

TỈNH ĐỒNG NAI

Bản án số: 66/2025/HS-ST

Ngày: 11 - 4 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Lợi.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Bích Ngọc.
  2. Bà Trần Thị Yến Nhi.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Lại Thị Như Quỳnh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 11 tháng 4 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến vụ án hình sự thụ lý số 59/2025/TLST-HS ngày 19 tháng 3 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2025/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Nguyễn Thị H – sinh năm: 1983, tại Đồng Nai; Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B (đã chết) và bà Thi Thị H1 (đã chết). Trước đây sống chung như vợ chồng với ông Hồ Đình B1 – 1973. Đến năm 2014, sống chung với ông Lầu Say L (đã chết); Con: Có 04 con, lớn nhất sinh năm 2002, nhỏ nhất sinh năm 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 27/10/2021, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”; Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay. (có mặt)
  2. Nguyễn Thị Kim P (tên gọi khác: Nguyễn Thị P) – sinh năm: 1967, tại Tiền Giang; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú ổn định; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn N (đã chết) và bà Nguyễn Thị H2 (đã chết); Chồng: Hồng Tuấn K (đã chết); Con: Có 02 con, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1988; Tiền án: Ngày 28/6/2021, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xử phạt 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiền sự: Không. Nhân thân: Ngày 12/6/1998, bị Tòa án nhân dân huyện Xuân Lộc, tỉnh Đồng Nai xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản của công dân”. Ngày 30/01/2008, bị Tòa án nhân dân huyện Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xử phạt 04 tháng 13 ngày tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 18/11/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Định Quán, tỉnh Đồng Nai xử phạt 01 năm 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/12/2024 đến nay. (có mặt)

- Bị hại: Ông Lâm Ngọc X – sinh năm: 1984. (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P có mối quan hệ quen biết với nhau.

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên sáng ngày 21/12/2024 H rủ P đi tìm tài sản của người dân để trộm cắp thì P đồng ý. Sau đó, H sử dụng xe mô tô biển số 60B4-283.13 chở P đi đến ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai thì nhìn thấy một chòi nuôi cá, bên trong chòi có 02 chiếc xe mô tô không có ai trông coi. H dừng xe ở bên ngoài và cùng P đi vào cạy cốp xe mô tô tìm tài sản. Sau đó, P dùng tay cạy cốp xe còn H lục tìm tài tài sản trong cốp xe nhưng không có. Do lo sợ bị phát hiện nên H đi ra ngoài cửa chòi cảnh giới cho P vào trong chòi trộm cắp tài sản. Sau đó P tìm được 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen và 01 đồng hồ Rado màu vàng ở trong túi quần treo trong chòi là tài sản của ông Lâm Ngọc X.

Sau khi chiếm đoạt được số tài sản trên, cả hai điều khiển xe mô tô về nhà của mình cất giấu nhằm mục đích để bán lấy tiền tiêu xài. Cùng ngày, ông Lâm Ngọc X đến Công an xã T trình báo sự việc.

Đến ngày 23/12/2024, H và P nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên đến Công an xã T đầu thú, giao nộp tài sản đã trộm cắp được.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh và 01 đồng hồ Rado màu vàng, 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60B4-283.13.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 68/KL.HĐĐGTS ngày 25/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện T, tỉnh Đồng Nai đã kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh và 01 đồng hồ Rado màu vàng có tổng trị giá là 5.500.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình theo đúng nội dung vụ án nêu trên.

Bản cáo trạng số 73/CT-VKSTP-ĐN ngày 17 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai truy tố các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú giữ quyền công tố luận tội và tranh luận; phân tích dấu hiệu phạm tội; đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; đặc điểm nhân thân của các bị cáo. Do đó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173, các điểm r, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo P. Đề xuất mức án đối với các bị cáo, cụ thể:

  • Nguyễn Thị H từ 01 năm đến 01 năm 02 tháng tù.
  • Nguyễn Thị Kim P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Ông Lâm Ngọc X đã nhận lại tài sản, không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.

Về xử lý vật chứng:

Đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô hiệu Honda Vision biển số 60B4-283.13 là tài sản của Nguyễn Thị H sử dụng khi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh và 01 đồng hồ Rado màu vàng, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại Lâm Ngọc X nên đề nghị không xem xét.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng: Các bị cáo biết hành vi của mình là sai trái và ăn năn hối cải. Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Phú, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P đã thành khẩn khai nhận tội. Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú, kết luận định giá tài sản và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định:

Vào khoảng 09 giờ ngày 21/12/2024, tại ấp E, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh và 01 đồng hồ Rado màu vàng của ông Lâm Ngọc X, tổng trị giá tài sản thiệt hại là 5.500.000đ.

Hành vi do các bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của các bị cáo trực tiếp xâm hại quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo thực hiện hành vi trên với lỗi cố ý. Bản thân các bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Do đó các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

[3]. Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Tội phạm do các bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội. Các bị cáo là người đã trưởng thành và nhận thức rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của các bị cáo không chỉ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của bị hại mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an tại địa phương.

[4]. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo P đã bị kết án chưa được xóa án tích mà còn phạm tội do cố ý. Do đó, hành vi phạm tội lần này của bị cáo cấu thành tình tiết “tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo H: Không có.

[5]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện đầu thú, bị cáo H đang nuôi con chưa thành niên là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[6]. Về nhân thân: Bị cáo P tái phạm và đã nhiều lần bị kết án nhưng đã được xóa án tích, bị cáo H đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích. Điều này thể hiện các bị cáo có nhân thân xấu.

[7]. Về hình phạt:

[7.1]. Về hình phạt chính: Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội, cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục các bị cáo trở thành người công dân tốt, có ích cho xã hội.

[7.2]. Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8]. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản thiệt hại và không yêu cầu bồi thường gì thêm. Vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.

[9]. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Vision, màu trắng, BKS: 60B4-283.13, số máy: JF 33E0395526, số khung: 3313DY323491 đã qua sử dụng; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Ừng Thị Mỹ T, sinh năm: 1989, HKTT: Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. Căn cứ lời khai của bị cáo H và chị Ừng Thị Mỹ T xác định xe mô tô trên do bị cáo mua của chị T nhưng chưa làm thủ tục sang tên chủ sở hữu, là tài sản hợp pháp của bị cáo H. Bị cáo H sử dụng tài sản trên vào việc phạm tội. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự, cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14 màu đen, 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A32 màu xanh và 01 đồng hồ Rado màu vàng là tài sản hợp pháp của bị hại Lâm Ngọc X. Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại là phù hợp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[10]. Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội thì các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

[11]. Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát phù hợp một phần với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận một phần.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự cho bị cáo P;
  • Điểm a khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  • Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt:

  • Bị cáo Nguyễn Thị H 01 (một) năm tù.
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 23 tháng 12 năm 2024.
  • Bị cáo Nguyễn Thị Kim P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù.
  • Thời hạn chấp hành hình phạt tính từ ngày 23 tháng 12 năm 2024.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung công 01 xe mô tô hiệu Vision, màu trắng, BKS: 60B4-283.13, số máy: JF 33E0395526, số khung: 3313DY323491 đã qua sử dụng; 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe máy mang tên Ừng Thị Mỹ T, sinh năm: 1989, HKTT: Ấp E, xã P, huyện Đ, tỉnh Đồng Nai. (Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/3/2025).

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Thị H và Nguyễn Thị Kim P, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các bị cáo, bị hại;
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai;
  • - CQCSĐT Công an tỉnh Đồng Nai;
  • - VKSND huyện Tân Phú;
  • - Chi cục THADS huyện Tân Phú;
  • - Lưu hồ sơ vụ án – VT.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Mai Văn Lợi

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 11/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 66/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN PHÚ, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố các bị cáo phạm tội "Trộm cắp tài sản"
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger