Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CÁI NƯỚC

TỈNH CÀ MAU

Bản án số: 66/2025/HNGĐ-ST

Ngày 01 - 4 - 2025

“V/v tranh chấp ly hôn”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Thái Hoàng Đắc

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mầm

Ông Nguyễn Quốc Trung

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Văn Khải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cái Nước.

Ngày 01 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 83/2025/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2025 về tranh chấp ly hôn, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2025 giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Chị Phạm Mỹ N, sinh năm: 1994. Địa chỉ cư trú: Ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (có mặt).
  • Bị đơn: Anh Quách Châu S, sinh năm: 1994. Địa chỉ cư trú: Ấp A, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chị Phạm Mỹ N trình bày tại đơn khởi kiện và được bổ sung tại phiên tòa như sau:

Về hôn nhân: Năm 2012 chị N và anh Quách Châu S tự nguyện chung sống với nhau. Đến năm 2023 anh chị mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống hai người xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị N xin ly hôn với anh S. Trước đây chị N đã nộp đơn ly hôn, sau đó chị rút đơn khởi kiện để cho anh Sa cơ H sửa đổi nhưng anh S không thay đổi. Nay chị N cương quyết ly hôn với anh S.

Về con chung: Anh S và chị N có 02 người con chung tên Quách Kim T, sinh ngày 08/4/2013 đang sống với anh S và Quách An K, sinh ngày 04/01/2021 đang sống với chị N. Khi ly hôn chị N yêu cầu nuôi cháu K, đồng ý giao cháu T cho anh S nuôi, không đặt ra cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

- Tại biên bản hòa giải ngày 05/3/2025, anh Quách Châu S trình bày:

Về hôn nhân: Về thời gian chung sống, điều kiện kết hôn đúng như chị N trình bày. Vợ chồng chung sống không có mâu thuẫn lớn. Anh còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn.

Về con chung: Có 02 người con chung là Quách Kim T, sinh ngày 08/4/2013 đang sống với anh S và Quách An K, sinh ngày 04/01/2021 đang sống với chị N. Nếu Tòa án giải quyết cho ly hôn thì anh đồng ý nuôi cháu T và đồng ý giao cháu K cho chị N nuôi, không đặt ra cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn anh Quách Châu S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần để tham gia phiên tòa xét xử nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về hôn nhân: Năm 2012 anh Quách Châu S và chị Phạm Mỹ N tự nguyện chung sống với nhau và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên hôn nhân giữa anh chị được pháp luật công nhận là hợp pháp và được bảo vệ.

[3] Xét nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng theo chị N trình bày do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị N xin ly hôn với anh S. Tại biên bản hòa giải ngày 05/3/2025 anh S còn thương vợ con nên không đồng ý ly hôn. Tại phiên tòa, chị N xác định không còn tình cảm và cương quyết ly hôn với anh S. Về phía anh S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần xét xử nhưng vẫn vắng mặt. Đồng thời anh S cũng không đưa ra biện pháp nào để hàn gắn tình cảm cùng với chị N. Xét thấy tình trạng hôn nhân giữa chị N và anh S không thể hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ vào Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị N được ly hôn với anh S.

[3] Về con chung: Anh S và chị N có 02 người con chung tên Quách Kim T, sinh ngày 08/4/2013 đang sống với anh S và Quách An K, sinh ngày 04/01/2021 đang sống với chị N. Khi ly hôn, chị N và anh S thống nhất giao cháu K cho chị N nuôi và giao cháu T cho anh S nuôi. Xét thấy sự thỏa thuận giữa anh S và chị N là phù hợp với nguyện vọng của cháu T, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình nên được ghi nhận. Anh S và chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.

[4] Về cấp dưỡng nuôi con, theo quy định tại khoản 2 Điều 82 của Luật hôn nhân và gia đình thì cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con. Tuy nhiên, anh S và chị N không yêu cầu đặt ra cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

[5] Về tài sản chung và nợ chung: Anh S và chị N xác định không có.

[6] Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 143, 147, 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Các Điều 51, 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án;

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Phạm Mỹ N và anh Quách Châu S
  2. Về con chung: Giao con chung Quách Kim T, sinh ngày 08/4/2013 cho anh Quách Châu S trực tiếp nuôi dưỡng. Giao cháu Quách An K, sinh ngày 04/01/2021 cho chị Phạm Mỹ N trực tiếp nuôi dưỡng, không đặt ra trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con. Anh S và chị N có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
  3. Về tài sản chung và nợ chung: Anh S và chị N xác định không có.
  4. Về án phí: Chị N phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Ngày 17/02/2025 chị N đã nộp tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0019195 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau được chuyển thu đối trừ.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy đinh tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Nơi nhận:

  • - Phòng KT-NV và THA
  • TAND tỉnh Cà Mau (Gửi email);
  • - VKSND huyện Cái Nước;
  • - Chi cục THADS huyện Cái Nước;
  • - UBND xã Trần Thới, huyện Cái Nước;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Hoàng Đắc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HNGĐ-ST ngày 01/04/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 66/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/04/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁI NƯỚC, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Năm 2012 chị Phạm Mỹ Nh và anh Quách Châu S đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Trần Thới, huyện Cái Nước, tỉnh Cà Mau. Quá trình chung sống hai người xảy ra mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, thường xuyên cự cãi, không có tiếng nói chung. Cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên chị Nh xin ly hôn với anh S.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger