|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2025/HSST Ngày: 25/3/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Phương
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phùng Văn Thành
Ông Nguyễn Văn Cương
- Thư ký phiên toà: Ông Dương Tuấn Duy - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Kim Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 25/3/2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2025/TLST-HS ngày 03/3/2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2025/QĐXXST-HS ngày 13/3/2025 đối với bị cáo:
LÒ VĂN B, sinh năm: 1992; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không; HKTT: Bản Hào Nghè, xã M, T, Lai C; Chỗ ở: Không cố định; Dân tộc: Lào; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 09/12; Họ và tên bố: Lò Văn P, sinh năm 1972; Họ và tên mẹ: Lò Thị K, sinh năm: 1973; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Lò Thị P1, sinh năm 1991; Có 02 con lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2016.
Theo danh chỉ bản số 606, lập ngày 05/12/2024 của Công an quận L, thành phố Hà Nội và lý lịch địa phương cung cấp, bị cáo không có tiền án, tiền sự.
Bị cáo bị bắt quả tang, tạm giữ từ ngày 26/11/2024, tạm giam từ ngày 05/12/2024 đến nay tại Trại tạm giam số 2 – Công an thành phố H. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 22h45' ngày 25/11/2024, Công an phường B phối hợp cùng lực lượng 141 C1 thực hiện nhiệm vụ tại ngã 4 Hồ N - P (hướng C đi N) phát hiện một đôi nam nữ điều khiển xe moto nhãn hiệu Honda Vision BKS 17B6-616.81 có biểu hiện nghi vấn nên đã tiến hành dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, người cầm lái là Hoàng Thị T (SN: 2002, HKTT: Thôn Đ, V, V, Hưng Yên) là lái xe G còn thanh niên ngồi sau khai nhận thông tin họ tên: Lò Văn B (SN: 10/07/1992, HKTT: Bản Hào N, M, T, Lai Châu). Tiến hành kiểm tra phát hiện bên trong túi áo khoác bên phải B đang mặc có 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000đ (Hai nghìn đồng) bên trong chứa chất bột màu trắng, trong ví của B có 01 (một) gói nilông màu đen chứa chất bột màu trắng, trong vành mũ của B có 01 (một) giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ B khai nhận tinh bột màu trắng trên đều là ma túy Heroine của B vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản tạm giữ, niêm phong và đưa B cùng tang vật về trụ sở để giải quyết.
Vật chứng thu giữ của bị cáo: 01 gói nilong chứa chất bột màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 2000đ bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 gói giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng; 01 điện thoại Oppo màu vàng đã qua sử dụng; 01 thẻ ATM mang tên LO VAN B; 01 căn cước công dân tên Lò Văn B; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng.
Tại bản kết luận giám định số 8390/KL-KTHS ngày 05/12/2024 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: Chất bột màu trắng bên trong 01 gói nilong, 01 tờ tiền mệnh giá 2000đ và 01 gói giấy bạc đều là ma túy loại Heroine, tổng khối lượng 0,176 gam.
Tại cơ quan điều tra, Lò Văn B khai nhận:
Do bản thân là người nghiện ma túy nên tối ngày 25/11/2024, B đặt xe trên ứng dụng grab lái xe là chị Hoàng Thị T để đi từ số A Á, phường B, L, Hà Nội đến số A N, Hà Nội mục đích để tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Khi đến nơi, B bảo chị T đứng chờ ở ngoài đường còn B đi bộ dọc khu vực N để tìm mua ma túy. B vào trong ngõ khu vực Nguyễn X khoảng 30m thì gặp một thanh niên (không rõ nhân thân lai lịch), B mua của người này 01 gói ma túy heroine với số tiền là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, B đi ra đường N gặp chị T đang chờ B, B bảo chị T chở B về lại số 100 Á, p B, L, Hà Nội. Khi B ngồi trên xe dùng tay chia nhỏ ma túy thành ba gói nhỏ rồi cất ma túy ở trong túi áo khoác, trong ví và trong vành mũ lưỡi chai (Việc B mua và chia ma túy chị T hoàn toàn không biết). Trên đường về đến phố H giao với P, Tổ công tác 141 – C1 kiểm tra phát hiện trong túi áo khoác bên phải của B đang mặc có 01 (một) tờ tiền mệnh giá 2000đ (hai nghìn đồng) bên trong chứa chất bột màu trắng, trong ví của B có 01 (một) gói nilông màu đen chứa chất bột màu trắng, trong mũ của B có 01 (một) giấy bạc bên trong chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ B khai nhận chất bột màu trắng trên đều là ma túy heroine của B vừa mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác lập biên bản bắt người quả tang đưa B cùng tang vật về trụ sở để giải quyết.
Lời khai của Lò Văn B, phù hợp với lời khai của Hoàng Thị T, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Đối với chị Hoàng Thị T là lái xe công nghệ chở Lò Văn B đi từ quận L, Hà Nội sang đường N, quận T, Hà Nội để mua ma túy. Quá trình di chuyển chị không biết mục đích của B là đi mua ma túy vì vậy cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý đối với chị T.
Đối với thanh niên bán ma túy cho B tại ngõ trên đường N, T, Hà Nội do B khai mua lần đầu, không biết tên tuổi, địa chỉ. Vì vậy, cơ quan điều tra không có cơ sở điều tra, làm rõ.
Đối với 0,176 gam heroine; 01 tờ tiền mệnh giá 2000đ; 01 điện thoại Oppo màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo; 01 thẻ ATM mang tên LO VAN B; 01 căn cước công dân tên Lò Văn B; 01 ví da màu nâu là vật chứng vụ án chuyển Tòa án giải quyết.
Tại Bản cáo trạng số 43/CT-VKS-LB ngày 27/02/2025, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên đã truy tố Lò Văn B về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa: Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận tại phiên tòa như sau:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa thấy rằng: Hành vi của bị cáo Lò Văn B đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015. Về tình tiết tăng nặng: Không. Về tình tiết giảm nhẹ: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án; tiền sự, tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo ăn năn hối cải, thành khẩn khai báo nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lò Văn B mức án từ 15 đến 18 tháng tù.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền do bị cáo không có công việc và thu nhập ổn định.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Cho tịch thu tiêu hủy 0,176 gam ma túy loại Heroine (phòng PC09 thu mẫu 0,018 gam; còn lại 0,158 gam) thu giữ của bị cáo vì là vật cấm lưu hành.
- - Cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) thu giữ của bị cáo vì liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Cho thi hành trả bị cáo 01 điện thoại Oppo màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo; 01 thẻ ATM mang tên LO VAN B; 01 căn cước công dân tên Lò Văn B; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
Nói lời sau cùng bị cáo nhận thấy việc làm của bản thân là vi phạm pháp luật, mong Hội đồng xét xử xem xét mở lượng khoan hồng cho bị cáo mức án nhẹ nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra-Công an quận L, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo và người tham gia tố tụng khác đã khai báo thành khẩn và không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản tạm giữ đồ vật tài liệu; bản kết luận giám định cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 22h45' ngày 25/11/2024 tại ngã tư phố H - P phường B, L, Hà Nội, bị cáo Lò Văn B có hành vi tàng trữ trái phép 0,176 gam ma túy Heroin mục đích sử dụng cho bản thân nhưng chưa kịp sử dụng thì bị Công an phường B, L, Hà Nội phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.
Hành vi của bị cáo Lò Văn B có đầy đủ dấu hiệu của tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân quận Long Biên truy tố bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có căn cứ và phù hợp với quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý chất ma tuý của Nhà nước, gây mất trật tự trị an xã hội. Bị cáo có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi nên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi gây nguy hiểm cho xã hội do mình gây ra.
Cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện, Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xét thấy: Nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải nên cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
[3] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có điều kiện kinh tế, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về xử lý vật chứng:
- - Cho tịch thu tiêu hủy 0,176 gam ma túy loại Heroine (phòng PC09 thu mẫu 0,018 gam; còn lại 0,158 gam) thu giữ của bị cáo vì là vật cấm lưu hành.
- - Cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) thu giữ của bị cáo vì liên quan đến hành vi phạm tội.
- - Cho thi hành trả bị cáo 01 điện thoại Oppo màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo; 01 thẻ ATM mang tên LO VAN B; 01 căn cước công dân tên Lò Văn B; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng do không liên quan đến hành vi phạm tội.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Bị cáo được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Lò Văn B phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
1. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015:
Xử phạt bị cáo Lò Văn B 16 (mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 26/11/2024.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
- - Cho tịch thu tiêu hủy 0,176 gam ma túy loại Heroine (phòng PC09 thu mẫu 0,018 gam; còn lại 0,158 gam) thu giữ của bị cáo.
- - Cho tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 2.000 đồng (Hai nghìn đồng) thu giữ của bị cáo.
- - Cho thi hành trả bị cáo 01 điện thoại Oppo màu vàng đã qua sử dụng thu giữ của bị cáo; 01 thẻ ATM mang tên LO VAN B; 01 căn cước công dân tên Lò Văn B; 01 ví da màu nâu đã qua sử dụng.
(Tất cả hiện có tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Long Biên theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025;Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 25/3/2025 và Giấy nộp tiền mặt ngày 28/02/2025)
3. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy B thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Án xử công khai sơ thẩm. Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Thanh Phương |
Bản án số 66/2025/HSST ngày 25/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 66/2025/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ ma túy
