trending_up Gợi ý tra cứu
  • history Nghị định xử phạt hành chính đất đai
  • search Nghị định 100 phạt nồng độ cồn đường bộ
  • search Mẫu hợp đồng đặt cọc mua bán đất chuẩn
  • search Luật nhà ở 2023 và hướng dẫn mới
Chế độ Trả lời thông minh A.I

Hệ thống AI sẽ trả lời nhanh dựa trên hàng triệu văn bản luật, giải đáp trực tiếp khúc mắc của bạn.

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HS-ST

Ngày: 27/3/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tân

Thẩm phán: Bà Nguyễn Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Nga, ông Lê Hữu Tới, ông Bùi Thế Huệ

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Phi, thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:

Ông Trần Mạnh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 3 năm 2025, Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 44/2025/TLST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2025/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2025 đối với các bị cáo:

1. Lê Duy A, sinh năm 1996; Giới tính: Nam; Số CCCD: [...]; Nơi thường trú: Phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; Nơi ở hiện nay: Tổ dân phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 12/12; Quốc tịch: Việt nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Con ông: Lê Duy C và bà Trần Thị D; Bị cáo có vợ: Phạm Thị U và có 01 con sinh năm 2020; Tiền sự: Không.

Tiền án: Ngày 18/4/2022, Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” (bản án số 130/2022/HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/02/2023 (chưa được xoá án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 31/5/2024; Ngày 06/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.

2. Họ tên: Lê Văn G; giới tính: Nam; tên gọi khác: Không; Số CCCD: [...]; Sinh năm 1995 tại: Thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; nơi thường trú và nơi ở: Tổ dân phố Đ, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông: Lê Văn T (đã chết); và bà Hà Thị T1; Bị cáo có vợ: Nguyễn Thị Ánh N và có 02 con, lớn sinh năm 2013, nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không.

1

Nhân thân: Ngày 20/9/2016, Toà án nhân dân quận Thủ Đức (nay là thành phố T), thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 01 năm tù, về tội “Trộm cắp tài sản” (bản số: 420/2016-HSST). Chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/5/2017, đã được xoá án tích.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 14/6/2024; Ngày 20/6/2024 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh T “Có mặt”.

* Người bào chữa cho bị cáo Lê Duy A: Ông Mai Văn B - Luật sư Văn phòng L2 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ 20 phút, ngày 31/5/2024 tổ công tác Công an thành phố S phối hợp với Công an phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa kiểm tra nhà trọ của Lê Duy A tại tổ dân phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa phát hiện Lê Duy A; Lê Văn G; Lê Tuấn A1 (sinh năm 2004, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa); Nguyễn Văn L (sinh năm 1984, trú tại tổ dân phố T, phường T, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa); Bàn Thị H (sinh năm 2000, trú tại thôn P, xã P, huyện N, tỉnh Thanh Hóa) và Đỗ Thị Q (sinh năm 2004, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Thanh Hóa) có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản quả tang và thu giữ, niêm phong vật chứng gồm:

  • - 01 đĩa sứ màu trắng, hình tròn, trên bề mặt bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 thẻ nhựa (loại thẻ sim Vinaphone màu xanh), bám dính chất tinh thể màu trắng; 01 tờ tiền mệnh giá 20.000đ cuộn tròn thành ống hút, được cố định bằng vỏ đầu lọc thuốc lá, bám dính chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M1);
  • - 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng (niêm phong ký hiệu M2);
  • - 01 túi nilon màu trắng có viền màu đỏ, bên trong có 20 viên nén màu xám, gồm 15 viên nén hình quả lựu đạn và 05 viên nén hình bầu dục (niêm phong ký hiệu M3);
  • - 01 cốc thủy tinh bên trong chứa chất lỏng màu cam (niêm phong ký hiệu M4);
  • - 04 vỏ túi nilon (gồm có 03 vỏ túi màu cam và 01 vỏ túi màu đỏ) bên trong đều bám dính chất bột màu cam (niêm phong ký hiệu M5);
  • - 01 loa phát nhạc (có kết nối Bluetooth) hình tròn, nhãn hiệu Harman/Kardon, màu đen; 01 đèn nháy màu đen, nhãn hiệu RGB TX 8686PRO; 01 đèn nháy màu trắng, nhãn hiệu THT TAHOTO;
  • - Thu giữ 06 điện thoại di động, gồm: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Nokia, màu đen của Lê Duy A; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14, màu xanh của Lê Văn G; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 Pro Max, màu

2

vàng Gold của Nguyễn Văn L; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 12 ProMax màu đen xám, bị vỡ màn hình của Lê Tuấn A1; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu trắng của Đỗ Thị Q; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone 15 Promax, màu ghi xám của Bàn Thị H.

* Khám xét khẩn cấp nhà trọ của Lê Duy A thu giữ:

  • - 01 túi vải màu trắng, trên bề mặt in dòng chữ JACQEMUS bên trong đựng: 02 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong đều chứa chất tinh thể màu trắng dạng cục vụn; 03 túi nilon màu trắng, viền đỏ, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền xanh, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền xanh, bên trong chứa 01 viên nén màu xám hình lựu đạn; 13 gói nilon màu đỏ, trên bề mặt túi in hình con ngựa và dòng chữ Ferrari, bên trong đều chứa chất bột màu cam; 12 túi nilon màu vàng, trên bề mặt in hình quả cam và dòng chữ ORANGE FRUIT TEA, bên trong đều chứa chất bột màu cam; 18 túi nilon màu vàng, trên bề mặt in dòng chữ MANGO FRUIT TEA, bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu vàng (ký hiệu K1); 01 cân tiểu ly, vỏ ngoài bằng nhựa, hình dạng bao thuốc lá, trên bề mặt in dòng chữ Marlboro LIGHTS.

* Khám xét khẩn cấp nhà ở của Lê Duy A tại khu phố T, phường Q, TP , tỉnh Thanh Hóa, thu giữ:

  • - 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong có 13 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong có 16 túi nilon màu trắng, viền màu xanh, bên trong mỗi túi đều chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong đều chứa các hạt tinh thể màu trắng; 01 túi nilon màu trắng, viền màu đỏ, bên trong chứa 17 viên nén màu xám hình lựu đạn; 03 túi nilon màu cam, trên bề mặt in chữ MANGO FRUIT TEA, bên trong đều chứa chất bột màu cam (ký hiệu K2); 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone Xs Max, màu vàng, bị vỡ mặt kính trước.

* Quá trình điều tra còn thu giữ:

  • - 01 USB nhãn hiệu TOSHIBA 8GB, bên trong chứa 02 đoạn video được trích xuất từ Camera của nhà ông Nguyễn Hữu Đ (sinh năm 1985, trú tại tổ dân phố X, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa);
  • - 01 USB nhãn hiệu TOSHIBA 8GB, bên trong chứa 02 đoạn video được trích xuất từ C tại Cửa hàng X, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa;
  • - 01 hợp đồng thuê nhà giữa Lê Duy A và bà Hoàng Thị T2 lập ngày 15/5/2024;
  • * Tại bản kết luận số 2165/KL-KTHS, ngày 05/6/2024, của Phòng Kl Công an tỉnh T, kết luận:

3

- Tìm thấy chất ma túy, loại: Methamphetamine, MDMA, Ketamine, trong mẫu nước tiểu ghi thu của Lê Tuấn A1, Bàn Thị H, Đỗ Thị Q, Nguyễn Văn L, Lê Văn G, Lê Duy A gửi giám định.

* Tại bản kết luận số 2166/KL-KTHS ngày 05/6/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận:

  • - Hộp giấy kí hiệu M1: Chất tinh thể màu trắng bám dính trên đĩa sứ là ma túy, loại: Ketamine; chất tinh thể màu trắng bám dính trên bề mặt thẻ nhựa là ma túy, loại: Ketamine; chất tinh thể màu trắng bám dính trên 01 tờ tiền mệnh giá 20.000 đồng niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Ketamine. Đều không xác định được khối lượng chất ma túy bám dính.
  • - Phong bì kí hiệu M2: Chất tinh thể màu trắng là ma túy, có tổng khối lượng là 32,787g loại Ketamine.
  • - Phong bì kí hiệu M3: 15 viên nén màu xám hình lựu đạn là ma túy, có tổng khối lượng là 8,335g loại MDMA; 05 viên nén màu xám hình bầu dục là ma túy, có tổng khối lượng là 2,110g loại MDMA.
  • - Chai nhựa kí hiệu M4: Tìm thấy chất ma túy, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine, N1 trong chất lỏng màu cam. Thể tích chất lỏng màu cam là 05ml.
  • - Phong bì kí hiệu M5: Chất bột màu cam bám dính bên trong 04 vỏ túi nilon niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, MDMA, Ketamine, N1. Không xác định được khối lượng bám dính.
  • - Hộp giấy kí hiệu K1: Chất tinh thể màu trắng dạng cục vụn trong 02 túi nilong màu trắng, viền màu đỏ có tổng khối lượng là 102,271g, loại Ketamine; chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, viền màu đỏ có tổng khối lượng là 39,430g loại Ketamine; chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, có tổng khối lượng là 52,662g loại Ketamine; chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, viền màu đỏ, có tổng khối lượng là 12,161g loại Ketamine; chất tinh thể màu trắng trong 01 túi nilong màu trắng, viền màu xanh có tổng khối lượng là 0,512g loại Ketamine; 01 viên nén màu xám hình lựu đạn trong 01 túi nilong màu trắng, viền màu xanh có tổng khối lượng là 0,550g loại MDMA; chất bột màu cam trong 13 gói nilong màu đỏ có tổng khối lượng là 67,296g loại Methamphetamine, Ketamine, Nimetazepam; chất bột màu cam trong 12 gói màu vàng có tổng khối lượng là 59,833g loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; chất bột màu cam trong 18 gói màu vàng có tổng khối lượng là 88,283g loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; qua giám định đều là ma túy.
  • - Phong bì kí hiệu K2: Các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 16 túi nilon màu trắng, có tổng khối lượng là 7,799g loại Ketamine; các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 13 túi nilon màu trắng, có tổng khối lượng là 6,700g loại Ketamine; các hạt tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilong màu trắng, viền màu đỏ có tổng khối lượng là 6,291g loại Ketamine; 17 viên nén màu xám hình

4

lựu đạn trong 01 túi nilong màu trắng, viền màu đỏ có tổng khối lượng là 9,319g loại MDMA; chất bột màu cam trong 03 gói màu vàng, có tổng khối lượng là 12,741g loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam; qua giám định đều là ma túy.

* Tại Kết luận giám định số 8700/KL-KHHS ngày 18/11/2024 của V Bộ C1, kết luận:

  • - Mẫu kí hiệu T1:
  • + Hàm lượng, khối lượng chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam trong 84,001 gam mẫu chất bột màu cam gửi giám định lần lượt là 0,4%; 1,1%; 1,1% và 0,336g; 0,924g; 0,924g.
  • + Hàm lượng, khối lượng chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam trong 56,680 gam mẫu chất bột màu vàng gửi giám định lần lượt lần lượt là 7,1%; 0,09%; 1,3% và 4,024g; 0,051g; 0,736g.
  • + Hàm lượng, khối lượng chất ma túy Methamphetamine, Ketamine, N1 trong 61,971gam mẫu chất bột màu cam lần lượt là 0,2%; 3,4%; 0,9% và 0,123g; 2,107g; 0,557g.
  • - Mẫu kí hiệu T2: Hàm lượng, khối lượng chất ma túy Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam trong 11,697gam mẫu chất bột màu cam gửi giám định là 0,4%; 3,0%; 0,7% và 0,046g; 0,350g; 0,081g.

Căn cứ kết luận số 2166/KL-KTHS ngày 05/6/2024, của Phòng K1 Công an tỉnh T và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đủ cơ sở khẳng định toàn bộ chất ma túy đã thu giữ và được niêm phong trong hộp giấy ký hiệu K1 và phong bì niêm phong ký hiệu K2 đều là ma túy và ở thể rắn nên không thuộc trường hợp phải giám định hàm lượng để tính khối lượng các chất ma túy. Do đó căn cứ hàm lượng các chất ma túy tại kết luận giám định số 8700/KL-KHHS ngày 18/11/2024 của V Bộ C1 để xác định tỷ lệ giữa các chất ma túy có trong mẫu gửi giám định, từ đó xác định khối lượng từng chất ma túy. Vì vậy:

  • - Trong tổng 88,283g ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam có hàm lượng lần lượt là 0,4%; 1,1%; 1,1%. Do đó khối lượng tương ứng Methamphetamine là 13,603g; MDMA là 37,34g; Nimetazepam là 37,34g.
  • - Trong tổng 59,833g ma túy loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam có hàm lượng lần lượt là 7,1%; 0,09%; 1,3%. Do đó khối lượng tương ứng Methamphetamine là 50,03g; MDMA là 0,63g; Nimetazepam là 9,173g.
  • - Trong tổng 67,296g ma túy loại Methamphetamine, Ketamine, N1 có hàm lượng lần lượt là 0,2%; 3,4%; 0,9%. Do đó khối lượng tương ứng Methamphetamine là 2,952g; Ketamine là 50,9g; Nimetazepam là 13,444g.

5

- Trong tổng 12,741g loại Methamphetamine, MDMA, Nimetazepam có hàm lượng lần lượt là 0,4%; 3,0%; 0,7%. Do đó khối lượng tương ứng Methamphetamine là 1,22g; MDMA là 9,37g; Nimetazepam là 2,15g.

Như vậy, tổng khối lượng ma túy thu giữ của Lê Duy A là 135,489g loại Methamphetamine, MDMA và 372,81g Ketamine, N1.

Kết quả điều tra có đủ căn cứ xác định:

Khoảng 20 giờ ngày 29/5/2024 Duy A mời Lê Văn G, Lê Tuấn A1, Nguyễn Văn L, Bàn Thị H, Đỗ Thị Q đi lên Bar L ở thành phố T uống rượu, nghe nhạc và chơi bóng cười. Tại đây, Duy A làm quen với một nhân viên nữ tên Y và rủ chơi bóng cười cùng mọi người. Đến khoảng 02 giờ ngày 30/5/2024, sau khi B1 Lam Kinh đóng cửa, Duy A rủ Y và mọi người về phòng trọ của Duy A để sử dụng ma tuý. Tuy nhiên, khi về đến phòng trọ, do thấy mọi người đều mệt (do đã uống nhiều rượu, bia và chơi bóng cười) nên Duy A không lấy ma túy ra mời mọi người sử dụng mà chỉ nằm nghe nhạc tại phòng ngủ của Duy A ở tầng 2. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, sau khi ăn uống xong Duy A đi lên phòng ngủ tầng 3, lấy 01 túi Ketamine và 20 viên thuốc lắc rồi mời mọi người đi Bar L. Tuy nhiên, mọi người đều mệt, muốn ở nhà ngủ nên Duy A để lại túi Ketamine và túi thuốc lắc cùng chiếc điện thoại N4 tại phòng ngủ tầng 2 rồi cùng Y đi lên Bar L chơi. Sau đó, Duy A gọi về cho Tuấn A1 bảo mọi người lên Bar L chơi, Tuấn A1 đồng ý rồi rủ Q đi cùng lên Bar L uống rượu, chơi bóng cười với Duy A và Y.

Khoảng 20 giờ ngày cùng ngày, Trần Ngọc H1 (sinh năm 1999 trú tại xã Q, huyện H, tỉnh Thanh Hóa) gọi điện thoại vào máy điện thoại Nokia của Duy A để hỏi mua ma túy. Lúc này, Lê Văn G biết là khách gọi để mua ma túy nên đã nghe máy thì H1 hỏi mua 20 viên thuốc lắc. G nói không phải là Duy A, rồi tắt máy và gọi qua ứng dụng messenger cho Duy A báo là có khách hỏi mua 20 thuốc lắc. Duy A nói nếu khách mua mình kẹo thì không bán nên G gọi lại cho H1 và nhắn lại nội dung trên thì H1 bảo G bán giá cao hơn cũng được thì G gọi lại báo cho Duy A biết thì Duy A đồng ý bán cho H1 10 viên kẹo (thuốc lắc), 01 chỉ ketamne và dặn G báo giá kẹo giá 40 (tức 400.000đ/viên), Ketamine giá 2.500.000đ/chỉ, đồng thời chỉ chỗ để túi thuốc lắc và Ketamine cho G rồi dặn G là có khách gọi đến thì lấy bán. G đồng ý, rồi gọi lại báo giá cho H1 và nhắn nếu mà mua 10 viên kẹo và 01 chỉ ke thì mới bán. H1 đồng ý, bảo G đem ma tuý đến cây xăng H, thành phố T giao cho H1.

Cùng lúc này, Phạm Văn H2 (sinh năm 2004, trú tại phố T, phường Q, thành phố T) rủ Nguyễn Văn N2 (sinh năm 2004, trú tại phố Đ, phường Q, thành phố T) góp tiền mua thuốc lắc về để sử dụng, N2 đồng ý góp 500.000đ. Sau đó, H2 gọi vào số điện thoại của Duy A để hỏi mua 03 viên thuốc lắc thì G nghe máy. Sau khi nghe máy G gọi báo lại cho D1 biết. Duy A nói khách mà mua mình kẹo thì không bán và G thông báo lại cho H2 nói là không bán mình kẹo phải mua cả Ke thì mới bán, H2 nói hôm nay chỉ đủ tiền mua thuốc lắc và sẽ tự đến lấy, rồi bảo G gửi số tài khoản để H2 chuyển tiền trước. G đồng ý bán cho H2 03 viên thuốc lắc với giá 1.200.000đ rồi gửi số tài khoản ngân hàng của G cho H2. H2

6

bảo N2 chuyển trước vào tài khoản của G 500.000đ. G hẹn H2 đến cây xăng số G, phường Q (nằm trên đại lộ N) để giao dịch. Sau đó G lấy 03 viên thuốc lắc trong túi thuốc lắc mà Duy A để trên bàn trong phòng ngủ rồi đi xe taxi ra cây xăng Q1. Tại đây G đưa cho H2 03 viên thuốc lắc, H2 chuyển khoản cho G 500.000đ và đưa 200.000đ tiền mặt. Giao dịch xong G đi về phòng trọ để lấy ma tuý đi bán cho H1. Tuy nhiên, khi G về gần đến phòng trọ thì thấy H1 nhắn tin lại do đợi không thấy G gọi lại, nên đã về nhà và không mua ma túy nữa. H2 và N2, sau khi mua được 03 viên thuốc lắc, H2 lấy 01 viên thuốc lắc đưa cho N2. Sau đó, N2 và H2 đã tự sử dụng hết số ma túy trên.

Đến khoảng 01 giờ ngày 31/5/2024, sau khi B2 đóng cửa, Duy A xuống quầy thanh toán rồi mời Y, Tuấn A1, Q quay về phòng trọ của Duy A để chơi đồ (sử dụng ma tuý). Khi về đến phòng trọ Y nói có việc nên đi về, còn Duy A bảo Tuấn A1, Q đi lên phòng ngủ tầng 2 để sử dụng ma túy.

Khi G, Luật, H tỉnh dậy, Duy A đi lên phòng ngủ tầng 3 lấy 04 gói nước vui đem xuống phòng ngủ pha vào cốc thuỷ tinh rồi lần lượt mời mọi người sử dụng khoảng 2 đến 3 lượt, còn lại một ít nước vui trong cốc Duy A để trên bàn rồi lấy ra 04 viên thuốc lắc (trong túi thuốc lắc Duy A để tại phòng ngủ tầng 2, mà Duy A đã nhờ G bán trước đó) đưa cho G 01 viên, Duy A sử dụng 01 viên, 02 viên Duy A bẻ làm đôi (thành 4 nửa viên) rồi đưa cho Tuấn A1, Q, H, Luật mỗi người 1/2 viên để mọi người sử dụng. Tiếp tục Duy A lấy túi K (Duy A để trên ô tường phòng ngủ tầng 2 trước đó) đem ra trước cửa nhà vệ sinh ngay cầu thang, gác lửng giữa tầng 2 và tầng 3 rồi đổ một ít Ketamine ra đĩa sứ và dùng thẻ nhựa để xào. Sau đó, Duy A dùng tờ tiền 20.000 đồng cuộn tròn làm ống hút, rồi đem đĩa Ketamine vào trong phòng ngủ dùng thẻ nhựa kẻ thành các đường nhỏ mời G, Q, Luật, Tuấn Al mỗi người sử dụng khoảng 02 đến 03 đường, Duy A sử dụng 02 đường. Hết lượt, Duy A để đĩa Ketamine lên bàn ai có nhu cầu thì lấy sử dụng. Đến khoảng 08 giờ ngày 31/5/2024 thì bị Cơ quan Công an thành phố S phát hiện bắt quả tang.

* Việc xử lý vật chứng:

Đối với 04 điện thoại di động thu giữ của Nguyễn Văn L, Lê Tuấn A1, Đỗ Thị Q, Bàn Thị H. Căn cứ tài liệu điều tra, đủ căn cứ xác định Nguyễn Văn L, Lê Tuấn A1, Đỗ Thị Q, Bàn Thị H không liên quan đến hành vi phạm tội nên Cơ quan điều tra đã ra quyết định trả lại cho chủ sở hữu.

Số ma túy còn lại sau giám định và các đồ vật, tài sản khác được chuyển đến Cục thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, chờ xử lý theo quy định của pháp luật.

* Các tình tiết khác liên quan trong vụ án:

  • - Đối với nguồn gốc số ma túy trên Lê Duy A khai nhận mua của một người thanh niên tên là T3 ở Hà Nội (không rõ tên tuổi, địa chỉ cụ thể), việc liên hệ, giao dịch mua bán ma túy D thực hiện thông qua ứng dụng mạng xã hội

7

Facebook và T4 được cài đặt trên điện thoại Iphone 15 màu đỏ nhưng Duy A đã làm mất tại Bar L vào đêm ngày 30/5/2024. Cơ quan CSĐT đã tiến hành nhiều biện pháp nghiệp vụ để điều tra nhưng không xác định được người tên T3 đã bán ma túy cho Duy A nên không có căn cứ để tiếp tục điều tra.

  • - Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy: Căn cứ kết quả giám định chất ma tuý trong nước tiểu, Phòng CSĐT tội phạm về Ma tuý Công an tỉnh T đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn L, Lê Tuấn A1, Đỗ Thị Q, Bàn Thị H, Lê Văn G là đúng quy định.
  • - Đối với Phạm Văn H2, Nguyễn Văn N2 là người mua 03 viên thuốc lắc, mục đích để sử dụng cho bản thân. Sau khi mua được ma tuý, H2 và N2 đã chia ma tuý rồi tự sử dụng hết. Cơ quan CSĐT đã tiến hành xét nghiệm nước tiểu, nhưng đều có kết quả âm tính. Do đó không đủ căn cứ để xem xét trách nhiệm hình sự và xử lý vi phạm hành chính đối với H2 và N2.
  • - Đối với Trần Ngọc H1 người đã gọi điện hỏi mua 20 viên thuốc lắc của Duy A nhưng chưa thực hiện việc mua bán nên không có căn cứ để xem xét xử lý.

Tại bản cáo trạng số 22/CTr - VKS - P1 ngày 18 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa truy tố bị cáo Lê Duy A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 và điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự;

Lê Văn G về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự;

Tại phiên toà đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh hoá luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Duy A mức án 20 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; từ 08 đến 09 năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là từ 28 đến 29 năm tù; Phạt bị cáo từ 10 đến 20 triệu đồng để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Áp dụng điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 17; Điều 58 Bộ luật hình sự; đề nghị xử phạt bị cáo Lê Văn G mức án từ 08 năm đến 09 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy";

Đề nghị HĐXX xử lý vật chứng và buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các bị cáo tội và công nhận quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là đúng và không có ý kiến tranh luận, trong lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.

8

Người bào chữa bào chữa cho bị cáo Lê Duy A phát biểu quan điểm bào chữa: Thống nhất về tội danh, điều luật mà Viện kiểm sát đã áp dụng đối với bị cáo. Đề nghị HĐXX xem xét đến hành vi phạm tội của bị cáo và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo Lê Duy A đã thành khẩn khai báo, vì vậy đề nghị Hội đồng xét xử tạo điều kiện cho bị cáo được hưởng chính sách khoan hồng của Đảng, Nhà nước, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được áp dụng mức án thấp hơn đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát. Bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên xin miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an tỉnh T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bào chữa không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên toà hôm nay các bị cáo Lê Duy A và bị cáo Lê Văn G đã khai nhận:

Khoảng 08 giờ 20 phút, ngày 31/5/2024, tại phòng trọ của Lê Duy A ở tổ dân phố C, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa, tổ công tác Công an thành phố S phối hợp với Công an phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa phát hiện bắt quả tang Lê Duy A có hành vi cung cấp ma túy, chuẩn bị dụng cụ cho Lê Văn G, Lê Tuấn A1, Nguyễn Văn L, Bàn Thị H, Đỗ Thị Q sử dụng trái phép chất ma túy.

Khám xét khẩn cấp nhà trọ và nhà ở của Lê Duy A tại khu phố T, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa, thu giữ các chất ma túy gồm 135,489g loại Methamphetamine, MDMA và 372,81g Ketamine, N1. Số ma túy này Duy A cất giữ với mục đích bán kiếm lời.

Ngoài ra vào khoảng 21 giờ ngày 30/5/2024 tại khu vực cây xăng số G, phường Q, thành phố S, tỉnh Thanh Hóa; Lê Văn G đã giúp Lê Duy A bán 03 viên thuốc lắc cho Phạm Văn H2 với giá 1.200.000đ. 03 viên thuốc lắc này G đã lấy trong 01 túi ma túy theo hướng dẫn của Duy A để tại phòng ngủ tầng 2 nhà trọ của Duy A. Túi ma túy này đã được thu giữ và giám định có khối lượng 10,445g loại MDMA. Do đó Lê Văn G phải chịu trách nhiệm hình sự đối với số ma túy này.

9

Lời khai của các bị cáo khai tại phiên toà hôm nay thống nhất với lời khai trước đây các bị cáo đã khai nhận tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

[3] Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của Lê Duy A cung cấp ma túy, cung cấp dụng cụ sử dụng ma túy, tổ chức cho Lê Văn G, Lê Tuấn A1, Nguyễn Văn L, Bàn Thị H, Đỗ Thị Q sử dụng trái phép chất ma túy đã cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự; ngoài ra bị cáo còn cất giấu 135,489g loại Methamphetamine, MDMA và 372,81g Ketamine, N1. Số ma túy này Duy A cất giữ với mục đích bán kiếm lời, đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm h khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Lê Văn G đã giúp bị cáo Lê Duy A bán 03 viên thuốc lắc cho Phạm Văn H2 với giá 1.200.000đ. 03 viên thuốc lắc này G đã lấy trong 01 túi ma túy theo hướng dẫn của Duy A để tại phòng ngủ tầng 2 nhà trọ của Duy A. Túi ma túy này đã được thu giữ và giám định có khối lượng 10,445g loại MDMA, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm i khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự như cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở, đúng pháp luật.

[4] Xét tính chất vụ án, mức độ phạm tội và trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Xét hành vi mua bán, tàng trữ, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bởi những hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do việc mua bán, vận chuyển, nghiện chất ma tuý gây ra. Hành vi phạm tội của các bị cáo đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, các bị cáo đều là những người hiểu rõ về tác hại của ma túy nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện, do đó cần phải được xử lý nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục đối với các bị cáo và có tính phòng ngừa chung.

[5] Vai trò và trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:

Bị cáo Lê Duy A chịu trách nhiệm độc lập về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy.

Đối với hành vi mua bán trái phép chất ma túy: Duy A là người trực tiếp đi mua ma tuý về chia nhỏ, cất giấu để sử dụng và bán kiếm lời, chỉ đạo G tham gia giúp sức cho Duy A trong việc quản lý, bán 10,445gam ma tuý, loại MDMA mà Duy A cất giấu tại phòng ngủ tầng 2 của nhà trọ. Do đó, Duy A và G đồng phạm về hành vi mua bán trái phép. Trong đó, Lê Duy A là người chịu trách nhiệm về toàn bộ số ma túy thu giữ trong vụ án nên giữ vai trò thứ nhất; Lê Văn G là người giúp sức bán ma túy giúp Duy A nên giữ vai trò thứ hai.

[6] Xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Lê Duy A phạm tội thuộc trường hợp tái phạm, do bản án số 130/2022/HSST ngày 18/4/2022, Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 10 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Chấp chấp

10

hành xong hình phạt tù ngày 26/2/2023 (chưa được xoá án tích), nên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của BLHS.

Bị cáo Lê Văn G mặc dù không phải chịu tình tiết tăng nặng nhưng bị cáo cũng là người có nhân thân xấu đã từng bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo Lê Duy A có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến Hạng 3, do có công trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, bị cáo Lê Văn G đầu thú, bị cáo có bà ngoại là bà mẹ Việt Nam anh hùng, có hai bác ruột là liệt sỹ, mẹ đẻ bị cáo được Chủ tịch UBND tỉnh T tặng Bằng khen, nên các bị cáo được áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

Mặc dù bị cáo Duy A chưa được hưởng lợi bất chính từ hành vi mua bán trái phép chất ma túy nhưng bị cáo mua bán ma túy với số lượng lớn, nên cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Duy A để sung quỹ Nhà nước là phù hợp pháp luật.

Đối với số tiền 1.200.000VNĐ (Một triệu hai trăm ngàn đồng) bị cáo G bán ma túy mà có cần truy thu để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước;

[7] Về vật chứng:

Số ma túy thu của các bị cáo được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành, các vật chứng không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy;

  1. 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: "Số: 8700/KL-KTHS". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Văn T5, Đinh Thị T6 và các hình dấu của Viện KHHS Bộ C1.
  2. 01 (một) Hộp giấy được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Nguyễn Trần Đ1, Nguyễn Minh N3, Lê Văn T5 và các hình dấu của Viện KHHS Bộ C1. (Trong hộp giấy niêm phong có tờ tiền mệnh giá 20.000đ cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước)
  3. 01 (một) Thùng xốp được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ1, Nguyễn Minh N3, Lại Thị Thanh L1 và các hình dấu của Viện KHHS Bộ C1.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước các vật chứng các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội gồm:

  • - 01(một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, dạng bàn phím, màu đen. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Duy A;
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, bị vỡ mặt kính trước và sau. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Duy A;

11

  • - 01 (một) Loa phát nhạc Bluetooth, nhãn hiệu Harman/Kardon, hình tròn màu đen;
  • - 01 (một) Đèn nháy màu đen, nhãn hiệu RGB TX 8686 PRO, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) Đèn nháy màu trắng, nhãn hiệu THT TAHOTO, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu xanh. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Văn G;

Theo quy định tại khoản 1, điểm a, c Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm h khoản 4, khoản 5 Điều 251; điểm b khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 17; Điều 58; Điều 55 Bộ luật hình sự (Áp dụng đối với bị cáo Lê Duy A);

Căn cứ điểm i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38; Bộ luật hình sự (Áp dụng đối với bị cáo Lê Văn G);

Khoản 1, điểm a, c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án (Áp dụng chung đối với cả hai bị cáo);

Tuyên bố: Bị cáo Lê Duy A phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; Bị cáo Lê Văn G phạm tội "Mua bán trái phép chất ma túy";

Xử phạt: Bị cáo Lê Duy A 20 (Hai mươi) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; 08 (T7) năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 28 (Hai mươi tám) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 31/5/2024.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn G 08 (T7) năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 14/6/2024.

Về hình phạt bổ sung: Phạt bị cáo Lê Duy A 10.000.000₫ (Mười triệu) đồng để tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.

Về vật chứng:

12

Số ma túy thu của các bị cáo được niêm phong là vật Nhà nước cấm lưu hành và các vật chứng không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy;

  1. 01 (một) Phong bì được dán kín niêm phong, mặt trước ghi: "Số: 8700/KL-KTHS". Mặt sau có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Văn T5, Đinh Thị T6 và các hình dấu của Viện KHHS Bộ C1.
  2. 01 (một) Hộp giấy được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Lê Nguyễn Trần Đ1, Nguyễn Minh N3, Lê Văn T5 và các hình dấu của Viện KHHS Bộ C1. (Trong hộp giấy niêm phong có tờ tiền mệnh giá 20.000đ cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước, các vật chứng khác trong hộp giấy tịch thu tiêu hủy).
  3. 01 (một) Thùng xốp được dán kín niêm phong, xung quanh có các chữ ký chữ viết ghi rõ họ tên của Nguyễn Trần Đ1, Nguyễn Minh N3, Lại Thị Thanh L1 và các hình dấu của Viện KHHS Bộ C1.

Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước các vật chứng các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội gồm:

  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, dạng bàn phím, màu đen. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Duy A;
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng, bị vỡ mặt kính trước và sau. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Duy A;
  • - 01 (một) Loa phát nhạc Bluetooth, nhãn hiệu Harman/Kardon, hình tròn màu đen;
  • - 01 (một) Đèn nháy màu đen, nhãn hiệu RGB TX 8686 PRO, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) Đèn nháy màu trắng, nhãn hiệu THT TAHOTO, đã qua sử dụng;
  • - 01 (một) Điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14, màu xanh. Máy cũ đã qua sử dụng không kiểm tra chất lượng máy bên trong; thu của Lê Văn G;

Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số 78/2025/TV- CTHADS ngày 24 tháng 02 năm 2025 giữa Công an tỉnh T và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa.

* Truy thu của bị cáo Lê Văn G để tịch thu nộp Ngân sách nhà nước số tiền 1.200.000VNĐ (Một triệu hai trăm ngàn đồng);

Về án phí: Các bị cáo Lê Duy A và bị cáo Lê Văn G, mỗi bị cáo phải nộp 200.000₫ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

13

Người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Thanh Hóa (P1);
  • - Bị cáo;
  • - Công an tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cục THADS tỉnh Thanh Hóa;
  • - Lưu hồ sơ.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Lê Thị Tân

14

15

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 27/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 66/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Duy A + ĐP Mua bán trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger