|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO TỈNH ĐIỆN BIÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2025/HS-ST
Ngày 18/3/2025
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lương Thị Nga.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Mạnh Thắng và bà Bạc Thị Hồng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Phương Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Văn Mạnh, Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 71/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2025 của Tòa án nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Lò Thị T; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 07/5/1972; tại xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Bản S, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Không; con ông Lò Văn Ú, đã chết; con bà Lò Thị N, đã chết; bị cáo có chồng là Lò Văn H, sinh năm 1971 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 2001, con nhỏ nhất sinh năm 2008; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án và chưa từng bị xử phạt vi phạm hành chính; bị cáo bị tạm giam từ ngày 17/9/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực T - Trại tạm giam Công an tỉnh Đ cho đến nay và bị cáo được trích xuất có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Lò Thị H1; tên gọi khác: Không có tên gọi khác; sinh ngày 17/3/1975; tại huyện T, tỉnh Điện Biên; giới tính: Nữ; nơi cư trú: Bản P, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Thái; tôn giáo: Không; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ học vấn: Không; con ông Lò Văn H2, sinh năm 1932; con bà Lò Thị O, sinh năm 1931; bị cáo có chồng là Lò Văn S, sinh năm 1977 và có 03 người con, con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2015; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị kết án và chưa từng bị xử lý hành chính; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 17/9/2024 và bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người bào chữa cho bị cáo T có: Ông Nguyễn Đình T1 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt.
Người bào chữa cho bị cáo H1 có: Bà Triệu Thị H3 - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Đ; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Chị Lò Thị G; sinh năm 2005; nơi thường trú: Bản Sảo, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.
- - Anh Lường Văn N1, sinh ngày 01/9/2001; nơi thường trú: Bản T, xã T, huyện T, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
- - Anh Lò Văn K; sinh ngày 06/02/2008; nơi thường trú: Bản Sảo, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của anh Lò Văn K: Ông Lò Văn H; sinh năm 1971; nơi thường trú: Bản Sảo, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên; vắng mặt.
Người phiên dịch cho bị cáo H1 có: Bà Cà Thị K1; sinh năm 2001; nơi thường trú: Bản N, xã N, huyện T, tỉnh Điện Biên; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 19 giờ 45 phút ngày 14/9/2024, tổ công tác theo Kế hoạch 1266 - Công an tỉnh Đ phối hợp với tổ công tác Công an huyện T, tỉnh Điện Biên làm nhiệm vụ tại khu vực bản Tân Lập, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên, phát hiện xe ô tô khách nhà xe Quang T2, biển kiểm soát 27B-003.96 chạy tuyến Điện Biên - Bắc Ninh - Bắc Giang có biểu hiện nghi vấn vận chuyển trái phép chất ma túy, quá trình kiểm tra phát hiện trên bậc lên xuống trước cửa xe có 01 bao tải xác rắn màu trắng, bên ngoài ghi số thuê bao 034.756.1xxx, bên trong có 03 quả bưởi và các cây măng, kiểm tra bên trong quả bưởi có 01 gói nilon màu trắng nghi bên trong có chứa Heroine. Tổ công tác đã lập biên bản và đưa vật chứng về cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T để điều tra, làm rõ. Quá trình xác minh đã xác định người gửi là Lò Thị T, sinh năm 1972, trú tại bản Sảo, xã Q, huyện T, là người gửi 01 bao tải xác rắn màu trắng bên trong nghi có chứa ma túy.
Quá trình đấu tranh làm rõ đã xác định Lò Thị T và Lò Thị H1 là những người đã thực hiện hành vi phạm tội, cụ thể tại cơ quan điều tra Lò Thị H1, Lò Thị T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 10 giờ ngày 14/9/2024, Lò Thị H1 đang ở nhà tại bản P, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên thì Lò Văn T3 gọi điện bảo H1 tìm mua cho T3 hai triệu Heroine; đến chiều Lò Thị T (mẹ của T3) đến lấy gửi xe khách xuống cho T3. H1 đồng ý, sau đó H1 cầm theo số tiền 1.800.000 đồng một mình đi bộ từ nhà đến bản B, xã C, huyện T để tìm mua Heroine. Khi đến bản Bó, xã C, thì gặp một người đàn ông không quen biết, qua trao đổi Hính mua của người đàn ông đó 01 gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng với giá 1.800.000 đồng, H1 cầm lấy gói Heroine sau đó đi bộ về nhà cất giấu gói Heroine phía sau bình gas trong nhà bếp của H1. Khoảng 11 giờ ngày 14/9/2024, Lò Văn T3 gọi điện nói với T đi đến bản P, xã C, huyện T gặp H1 để mua hai triệu đồng Heroine rồi gửi xe khách xuống cho T3 để T3 sử dụng. Thăm đã chuyển số tiền 1.900.000 đồng qua ứng dụng Ngân hàng M bằng số tài khoản của Lò Văn K, sinh năm 2008, trú tại bản Sảo, xã Q, huyện T (em trai ruột T3) cho Lò Thị G, sinh năm 2005,
người đang sống chung như vợ chồng với K (việc T3 gửi tiền cho G là do Lò Thị T hỏi Thăm gửi tiền về cho T, G không biết gửi tiền về làm gì). Thăm nói T gửi Heroine xuống cho T3, mọi việc T3 và H1 trao đổi với nhau từ trước. Lò Thị T chuẩn bị một ít cây măng và 03 quả bưởi cho vào một bao tải xác rắn màu trắng, trong đó có một quả bưởi đã bóc vỏ. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, T nói với G điều khiển xe máy của K chở T đi gửi măng và bưởi xuống cho T3, Thợi khác chỉ đường, G đồng ý. Sau đó, G điều khiển xe máy hiệu VIETTHAI, biển kiểm soát 27AZ-030.49, chở T cùng bao tải chứa bưởi và măng đi xuống xã C. Khi đến đường vào bản P, xã C, T nói G đưa số tiền 1.900.000 đồng cho T và nói chở T đi vào nhà của một người phụ nữ tại bản Phang, xã C, huyện T (quá trình điều tra G mới biết là nhà Lò Thị H1), khi đến nhà H1, T nói G đứng ngoài đường đợi rồi xách bao tải xác rắn màu trắng chứa măng và bưởi vào nhà H1. Thợi để bao tải chứa bưởi và măng để sau cánh cửa bên phải nhà H1. Gặp H1, T nói: “Thăm bảo xuống lấy hàng gửi xuống cho T3”, H1 nói: “Mang tiền xuống không”, T nói: “Có” rồi đưa cho H1 số tiền 2.000.000 đồng, trong đó 1.900.000 đồng là tiền Thăm gửi về, còn 100.000 đồng là tiền của T bù thêm vào. H1 nhận lấy tiền cất vào túi rồi xuống dưới bếp lấy gói Heroine được gói bằng túi nilon màu trắng cất giấu sau bình gas lên, sau đó mở bao tải xác rắn chứa măng và bưởi ra, H1 thấy một quả bưởi đã bóc vỏ sẵn nên nhét gói Heroine vào phần rỗng dưới đáy quả bưởi, T đứng gần đó, cách H1 và bao tải khoảng 50cm nên thấy rõ việc H1 nhét gói Heroine vào trong quả bưởi, H1 cất quả bưởi vào trong bao tải, lấy bút bi ghi địa chỉ gửi cho T3 rồi T xách bao tải ra chỗ G đang ở ngoài đường rồi nói với G điều khiển xe máy chở T đến cầu B, xã C, huyện T đón xe khách nhà xe Quang T2, biển kiểm soát 27B - 003.96, chạy tuyến Điện Biên - Bắc Ninh - Bắc Giang; T gửi bao tải cho nhà xe sau đó đi về.
Tại Biên bản làm việc về nội dung mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng ngày 15/9/2024 đã xác định như sau: 01 gói được gói bằng mảnh nilon màu trắng bên trong chứa chất màu trắng dạng cục và dạng bột nghi ma túy loại Heroine được xác định khối lượng là 2,14 gam, gửi toàn bộ 2,14 gam làm mẫu gửi giám định. Cơ quan cảnh sát điều tra đã ra Quyết định trưng cầu giám định số: 1150/ QĐ-ĐCSHS-KTMT, ngày 16/9/2024. Tại bản Kết luận giám định số: 1463/KL-KTHS ngày 16/9/2024 của Phòng K3 Công an tỉnh Đ đã kết luận: Vật chứng thu giữ có khối lượng 2,14 gam chất màu trắng dạng cục và dạng bột là chất ma túy: Loại Heroine; có hoàn lại đối tượng giám định 1,9 gam Heroine.
Tại Cáo trạng số: 33/CT-VKS-TG ngày 27 tháng 02 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo, tỉnh Điện Biên; đã truy tố bị cáo Lò Thị T về hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy và bị cáo Lò Thị H1 về hành vi Mua bán trái phép chất ma túy. Tại phiên tòa Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lò Thị T từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Lò Thị H1 từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù. Đề nghị không phạt bổ sung đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, điểm c khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS tuyên tịch thu vật chứng còn lại là 1,9
gam Heroine; 01 gói nilon màu trắng; 01 bao tải xác rắn màu trắng cũ đã qua sử dụng; 01 hộp bìa catton cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ; 02 sợi dây màu đỏ đậm; 01 bút bi dạng bấm nhãn hiệu FO-03/VN, ruột màu xanh 0.5, bút cũ đã qua sử dụng; 01 tờ giấy kẻ ngang màu trắng, trên giấy có ghi dòng chữ viết tay bằng mực màu xanh ghi “gửi xuống gầm cầu bồ S1 đối diện cây xăng 18 hip lam N3. Người nhận: Lò Văn T3, SĐT: 0347.561.xxx” để tiêu hủy. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại màn hình cảm ứng, hệ điều hành Android, nhãn hiệu VIVO Y17, màu xanh dương, số sim IMEI1:868600053784276, số IMEI 2: 868600053784268, điện thoại gắn 02 thẻ sim gồm số thuê bao: 0877959539 của nhà mạng Vinaphone và 0964.496.xxx của nhà mạng VIETTEL, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại màn hình cảm ứng, hệ điều hành Android, nhãn hiệu VIVO 1820, màu xanh đỏ, số sim IMEI1:860429049809452, số IMEI 2: 860429049809445, điện thoại gắn 01 thẻ sim gồm số thuê bao: 0336268641 của nhà mạng VIETTEL, điện thoại cũ đã qua sử dụng. Trả lại 01 xe máy loại WAVES VT nhãn hiệu VIETTHAI, màu sơn đen bạc, số máy VHL139FMBVTE706236, số khung RMNFCBBMNPH006236, biển kiểm soát 27AZ-030.49, dung tích xi lanh 49,6cm³, năm sản xuất 2023, xe đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa xe cho anh Lò Văn K2. Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo T đề nghị: Về tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo về tội danh, điều luật áp dụng. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét về hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo. Đề nghị không phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo H1 đề nghị: Về tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật. Nhất trí với đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo về tội danh, điều luật áp dụng. Đề nghị HĐXX áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS, xem xét về hoàn cảnh gia đình, nhân thân của bị cáo tuyên mức hình phạt thấp nhất có thể đối với bị cáo. Đề nghị không phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên tòa, các bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo T nhận phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo H1 nhận phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xem xét miễn hình phạt bổ sung và án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét về hành vi phạm tội của của bị cáo:
Quá trình tranh tụng công khai tại phiên tòa, bị cáo T và bị cáo H1 đã khai nhận hành vi của mình phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ vụ án; do đó có đủ cơ sở kết luận:
Xét hành vi của bị cáo H1: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 14/9/2024, tại nhà của mình ở bản P, xã C, huyện T, tỉnh Điện Biên, Lò Thị H1 đã thực hiện hành vi bán trái phép 2,14 gam Heroine cho Lò Thị H1 nhằm mục đích để kiếm lời. Hành vi bán ma túy của H1 nhằm mục đích được hưởng lợi đã cấu thành tội Mua bán trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi của bị cáo T: Nhằm mục đích có ma túy để gửi cho T3 là con trai của bị cáo để sử dụng, bị cáo đã đi mua ma túy của H1 có khối lượng 2,14 gam Heroine với giá 2.000.000đ, khi đang trên đường gửi cho T3 thì bị kiểm tra, phát hiện thu giữ. Đối với hành vi của T, do Cơ quan cảnh sát điều tra đã truy tìm Lò Văn T3 theo thông tin mà bị cáo T cung cấp, nhưng không tìm thấy T3; do không thể xác định được người nhận thực chất là ai, cụ thể ở đâu do vậy không có cơ sở chứng minh T có hành vi vận chuyển trái phép chất ma túy, mà hành vi của bị cáo chỉ cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Đối với hành vi phạm tội của các bị cáo, bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo truy tố và Kiểm sát viên luận tội là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[2] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo: Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm những quy định của Nhà nước trong việc quản lý, sử dụng các chất ma túy; hành vi của các bị cáo gây mất trật tự trị an tại địa phương và làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự ổn định, phát triển của xã hội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm khắc đối với các bị cáo; như vậy mới có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.
[3] Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo:
Đối với bị cáo H1: Bị cáo không có tiền án tiền sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo T: Bị cáo không có tiền án tiền sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4] Về hình phạt bổ sung: Theo khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định và khoản 5 Điều 251 Bộ luật hình sự; bị cáo H1 và bị cáo T còn có thể bị phạt bổ sung bằng tiền, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Tuy nhiên, xét điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo không có khả năng thi hành; nên Hội đồng xét xử không phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[5] Xét đề nghị về tội danh và mức hình phạt của Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuần Giáo đối với các bị cáo:
Xét đề nghị của Viện kiểm sát đối với bị cáo T, Hội đồng xét xử xét thấy là đúng hành vi phạm tội, tính chất, mức độ, tình tiết giảm nhẹ của các bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét đề nghị của Viện kiểm sát đối với bị cáo H1, Hội đồng xét xử xét thấy là không phù hợp với khối lượng thu giữ, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; nhân thân của bị cáo, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.
[6] Xét đề nghị của những người bào chữa cho các bị cáo, HĐXX xét thấy phù hợp với tình tiết giảm nhẹ, điều kiện hoàn cảnh của các bị cáo; nên HĐXX chấp nhận.
[7] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử thấy rằng căn cứ vào điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS và điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 BLTTHS để xử lý vật chứng như sau:
Đối với 1,9 gam Heroine là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu để tiêu hủy;
Đối với 01 gói nilon màu trắng; 01 bao tải xác rắn màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 hộp bìa catton cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ; 02 sợi dây màu đỏ đậm; 01 bút bi dạng bấm, nhãn hiệu FO-03/VN, ruột màu xanh 0.5, bút cũ đã qua sử dụng; 01 tờ giấy kẻ ngang màu trắng, trên giấy có ghi dòng chữ viết tay bằng mực màu xanh ghi “gửi xuống gầm cầu bồ S1 đối diện cây xăng 18 hip lam N3. Người nhận: Lò Văn T3, SĐT: 0347.561.xxx” do không còn giá trị sử dụng vì vậy tịch thu để tiêu hủy.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại màn hình cảm ứng, hệ điều hành Android, nhãn hiệu VIVO Y17, màu xanh dương, số sim MEI1:868600053784276, số IMEI 2:868600053784268, điện thoại gắn 02 thẻ sim gồm số thuê bao: 877959539 của nhà mạng Vinaphone và 0964.496.xxx của nhà mạng VIETTEL, điện thoại cũ đã qua sử dụng; do bị cáo T đã sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại màn hình cảm ứng, hệ điều hành Android, nhãn hiệu VIVO 1820, màu xanh đỏ, số sim IMEI1:860429049809452, số IMEI 2:860429049809445, điện thoại gắn 01 thẻ sim gồm số thuê bao: 0336268641 của nhà mạng VIETTEL, điện thoại cũ đã qua sử dụng do bị cáo H1 đã sử dụng điện thoại để liên lạc mua bán ma túy.
Đối với 01 xe máy loại WAVES VT nhãn hiệu VIETTHAI, màu sơn đen bạc, số máy VHL139FMBVTE706236, số khung RMNFCBBMNPH006236, biển kiểm soát 27AZ-030.49, dung tích xi lanh 94,6cm³, năm sản xuất 2023, xe đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa xe của anh Lò Văn K; do khi G sử dụng xe của K, cả G và K đều không biết T sử dụng vào việc phạm tội, nên K và G không có lỗi, vì vậy trả lại xe cho K.
[8] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; xét thấy các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vì vậy HĐXX chấp nhận miễn án phí hình sự sơ thẩm cho các bị cáo.
[9] Đối với người đàn ông, Lò Thị H1 khai đã bán ma túy cho H1 vào ngày 14/9/2024, quá trình điều tra xét thấy khi mua bán ma túy, H1 không biết tên, địa chỉ của người đàn ông đó, nên cơ quan cảnh sát điều tra, Công an huyện T không có căn cứ để điều tra làm rõ; vì vậy HĐXX không xem xét.
Đối với Lò Văn K, Lò Thị G không biết việc T3, T, H1 trao đổi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép chất ma túy, nên K, G không vi phạm pháp luật.
Đối với Lò Văn T3, sinh năm 2001, trú tại bản Sảo, xã Q, huyện T, tỉnh Điện Biên là người đã trao đổi mua bán ma túy với Lò Thị H1 và trao đổi với Lò Thị T mua ma túy của H1 gửi xuống Bắc Ninh cho T3, quá trình điều tra xét thấy ngoài lời khai của T và H1 ra chưa có tài liệu, chứng cứ khác chứng minh việc Thăm mua bán trái phép ma túy với T và H1, cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã nhiều lần xác minh nhưng Lò Văn T3 không có mặt tại địa phương, chính quyền địa phương và gia đình không biết thăm đi đâu, làm gì, ngày 10/12/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện T đã ra Quyết định truy tìm số 1462/QĐ - TT đối với Lò Văn T3 nhưng chưa có kết quả, thời hạn điều tra vụ án đã hết, cơ quan điều tra khoanh cắt để tiếp tục điều tra, xác minh củng cố tài liệu, chứng cứ, khi có đủ căn cứ sẽ xử lý Lò Văn T3 theo quy định của pháp luật.
Đối với Lường Văn N1, sinh ngày 01/9/2001 là chủ nhà xe Quang T2, khi Lò Thị T gửi bao tải xác rắn xuống Bắc Ninh, N1 không biết trong bao tải có ma túy, nên N1 không vi phạm pháp luật.
[10] Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thấy rằng: Không có ý kiến khiếu nại các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện là đúng theo quy định của Pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Thị T và khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lò Thị H1;
1. Tội danh:
Tuyên bố bị cáo Lò Thị T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tuyên bố bị cáo Lò Thị H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Thị T 02 (Hai) năm 09 (Chín) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/9/2024.
Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Lò Thị H1 03 (Ba) năm 10 (Mười) tháng tù; thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
3. Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên tịch thu để tiêu hủy cụ thể: 01 phong bì niêm phong của Phòng K3 - Công an tỉnh Đ các mép đều được dán kín bên trong phong bì có 01 mẫu vật còn lại sau giám định có khối lượng 1,9 gam Heroine; 01 hộp bìa carton dạng hình hộp chữ nhật, toàn bộ hộp bìa carton được phủ một lớp giấy trắng, vật chứng còn lại gồm: 01 gói nilon màu trắng; 01 bao tải xác rắn màu trắng, cũ đã qua sử dụng; 01 hộp bìa catton cũ dùng để niêm phong vật chứng thu giữ; 02 sợi dây màu đỏ đậm. 01 phong bì niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín, bên trong có: 01 bút bi dạng bẩm, nhãn hiệu FO-03/VN, ruột màu xanh 0.5, bút cũ đã qua sử dụng.
01 phong bì niêm phong màu trắng, các mép đều được dán kín, mặt trước phong bì niêm phong có ghi: 01 tờ giấy kẻ ngang màu trắng, trên giấy có ghi dòng chữ viết tay bằng mực màu xanh ghi “gửi xuống gầm cầu bồ S1 đối diện cây xăng 18 hip lam nam S1 bắc ninh. Người nhận: Lò Văn T3, SĐT: 0347.561.xxx”.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại màn hình cảm ứng, hệ điều hành Android, nhãn hiệu VIVO Y17 màu xanh dương, số sim IMEI1:868600053784276, số IMEI2:868600053784268, điện thoại gắn 02 thẻ sim gồm số thuê bao: 0877959539 của nhà mạng Vinaphone và 0964.496.xxx của nhà mạng VIETTEL, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Lò Thị T.
Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại màn hình cảm ứng, hệ điều hành Android, nhãn hiệu VIVO 1820, màu xanh đỏ, số sim IMEI1:860429049809452, số IMEI 2:860429049809445, điện thoại gắn 01 thẻ sim gồm số thuê bao: 0336268641 của nhà mạng VIETTEL, điện thoại cũ đã qua sử dụng của Lò Thị H1.
Trả lại 01 xe máy loại WAVES VT nhãn hiệu VIETTHAI, màu đen bạc, số máy VHL139FMBVTE706236, số khung RMNFCBBMNPH006236, biển kiểm soát 27AZ-030.49, dung tích xi lanh 49,6cm³, năm sản xuất 2023, xe đã qua sử dụng, kèm theo chìa khóa xe cho anh Lò Văn K.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 28/02/2025 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục thi hành án dân sự huyện Tuần Giáo).
4. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; các bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
5. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 332; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 18/3/2025). Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người đại diện hợp pháp của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình có trong bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Lương Thị Nga |
Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN về vụ án hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 66/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/03/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUẦN GIÁO - TỈNH ĐIỆN BIÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy
