Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MAI SƠN

TỈNH SƠN LA

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/HS-ST

Ngày 05 tháng 03 năm 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Hà Minh Quân

- Các hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn Tổ, ông Nguyễn Đức Việt

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Huế – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Đức Mạnh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mai Sơn, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1982 tại huyện V, tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện nay: Tiểu khu B, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Không; Con ông: Phạm Minh N, sinh năm 1955 và bà Đào Thị C, sinh năm 1956. Bị cáo có vợ là Trần Thị Hải B, sinh năm 1983. Bị cáo có 03 con, sinh năm 2005, 2013, 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân:

  • + Bản án số 07/2007/HSST ngày 23/01/2007, Tòa án nhân dân thị xã Sơn La xử phạt 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 tháng về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đương nhiên xóa án tích).
  • + Bản án số 173/2008/HSST ngày 30/10/2008, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đương nhiên xóa án tích).
  • + Bản án số 96/2016/HSST ngày 26/7/2016, bị Tòa án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (đương nhiên xóa án tích).

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/11/2024 tại Phân trại tạm giam khu vực M - Trại tạm giam Công an tỉnh S. Có mặt.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Chị Trần Thị Hải B, sinh năm 1983. Địa chỉ: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Có mặt.

Người làm chứng: Vũ Văn Đ. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 06/11/2024, Phạm Văn Q thuê xe ôm đi từ nhà ở tiểu khu B, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La đến khu vực xã N, huyện M, tỉnh Sơn La để tìm mua ma túy sử dụng (không biết người lái xe ôm và không nhớ biển kiểm soát xe mô tô). Khi đi đến khu vực đường dân sinh vào bản người dân tộc (Q không biết tên bản) thuộc xã N, huyện M, Q xuống xe bảo người lái xe ôm chờ rồi một mình đi bộ trên đường dân sinh để tìm mua ma túy. Trên đường đi, Q gặp và mua của một người đàn ông dân tộc Mông (không biết tên, địa chỉ) 01 túi Heroine với giá 200.000VNĐ. Sau khi mua được H, Q đi vào bụi cây ven đường rồi sử dụng một phần Heroine bằng hình thức tiêm, chích, số Heroine còn lại Q gói lại như cũ cất giấu vào túi quần đùi phía trước bên trái đang mặc rồi đi về nhà. Sáng ngày 07/11/2024, Vũ Văn Đ (em họ của Q) gọi điện thoại nhờ Q chở đi thăm người nhà tại thị trấn H, huyện M, tỉnh Sơn La. Q đồng ý, cầm theo gói Heroine cất giấu trong túi quần đùi phía trước bên trái đang mặc rồi điều khiển xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B2-576.96 đi đón Đ và đưa Đ đi từ thị trấn Í, huyện M đến thị trấn H, huyện M (Đ không biết việc Q tàng trữ trái phép chất ma túy) . Khi đi đến khu vực bản N, xã N, huyện M thì Q bị Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện M phối hợp với Công an xã N, huyện M làm nhiệm vụ phát hiện, bắt quả tang, thu giữ, niêm phong vật chứng: 01 túi nilon màu trắng bên trong có 01 gói giấy màu trắng tiếp đến là lớp nilon màu trắng chứa chất bột nén màu trắng nghi là H. Ngoài ra còn tạm giữ của Q: 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B2-576.96.

Ngày 07/11/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M phối hợp với Phòng K Công an tỉnh S cân tịnh, xác định khối lượng vật chứng thu giữ của Phạm Văn Q, kết quả: Tổng khối lượng chất bột nén màu trắng là 0,39 gam, lấy toàn bộ làm mẫu ký hiệu M trưng cầu giám định.

Tại kết luận giám định số 2030 ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh S, kết luận:

“Mẫu ký hiệu M gửi giám định là ma túy; Loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,39 gam.

Tổng khối lượng ma túy thu giữ là 0,39 gam, Loại Heroine (H), có tên khoa học là: Diacetylmorphine, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.

Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số: 29/CT-VKS ngày 07/02/2025 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn đã truy tố bị cáo Phạm Văn Q về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Sau khi kết thúc phần thẩm vấn, đại diện Viện kiểm sát trình bày lời luận tội đối với bị cáo và đã giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo theo cáo trạng và đề nghị hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015.

Xử phạt Phạm Văn Q từ 20 (hai mươi) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù về Tội tàng trữ trái phép chất ma túy.

Hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; túi nilon màu trắng loại túi có díp khóa một đầu, mảnh giấy màu trắng, mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu.

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Hải B 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B2-576.96, số khung RLHKC3705KY030266, số máy KC34E1062350.

Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo nhất trí với nội dung bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến tranh luận.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nhất trí với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Cơ quan điều tra Công an huyện M, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mai Sơn, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay không có người nào có ý kiến hoặc khiến nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi của bị cáo thấy rằng: Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 11 giờ 00 phút ngày 07/11/2024; biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh, trích rút mẫu giám định và niêm phong lại vật chứng; phù hợp với kết luận giám định số 2030 ngày 12/11/2024 của Phòng K Công an tỉnh S; phù hợp với biên bản lấy lời khai, biên bản hỏi cung đối với bị can và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Qua tranh luận không có gì mâu thuẫn, tại phiên tòa không phát sinh tình tiết, chứng cứ mới.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Ngày 07/11/2024, tại bản N, xã N, huyện M, tỉnh Sơn La, Tổ công tác Đội Cảnh sát giao thông – trật tự Công an huyện M phối hợp với Công an xã N, huyện M phát hiện bắt quả tang Phạm Văn Q về hành vi tàng trữ trái phép 0,39 gam Heroine, mục đích để sử dụng. Đầy đủ cơ sở kết luận bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Viện kiểm sát truy tố và Tòa án xét xử bị cáo về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là chính xác, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai cho bị cáo.

[3] Xét thấy tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm về hình sự, nhận thức được việc mua bán, sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, nhưng bị cáo đã bất chấp quy định của pháp luật để phạm tội với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm vào chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, gây mất trật tự trị an xã hội, tiếp tay cho các đối tượng hám lời có cơ hội lưu thông buôn bán ma túy.

[4] Xét về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo có nhân thân xấu, là đối tượng nghiện ma túy, đã bị xét xử ba lần các tội về ma túy (thuộc trường hợp đương nhiên xóa án tích) nên không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình điều tra và tại phiên toà sơ thẩm, bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đây là tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự sẽ được Hội đồng xét xử xem xét áp dụng đối với bị cáo.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy, bị cáo phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng, cần có mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để giáo dục riêng và phòng ngừa tội phạm chung.

[5] Về hình phạt bổ sung: Qua điều tra xác minh xác định bị cáo không có tài sản riêng có giá trị nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[6] Về vật chứng của vụ án: Đối với toàn bộ vật chứng đã thu giữ của bị cáo, áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Đối với 0,39 gam Heroine đã trích rút hết làm mẫu giám định, không hoàn lại mẫu.

Đối với vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; túi nilon màu trắng loại túi có díp khóa một đầu, mảnh giấy màu trắng, mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu là vật không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B2-576.96, số khung RLHKC3705KY030266, số máy KC34E1062350, quá trình điều tra xác định là tài sản của bị cáo và vợ là Trần Thị Hải B. Tại phiên tòa chị B có yêu cầu xin lại tài sản do gia đình chỉ có mỗi chiếc xe là tài sản có giá trị, là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình. Ngày 07/11/2024, bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô trên để tàng trữ trái phép chất ma túy B không biết nên cần trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Hải B.

[7] Về vấn đề khác: Đối với Vũ Văn Đ là người ngồi sau xe của Phạm Văn Q khi bị bắt quả tang. Quá trình điều tra xác định Đ không biết, không liên quan đến việc Q tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để xử lý đối với Vũ Văn Đ.

Về nguồn gốc chất ma tuý: Bị cáo khai mua của một người đàn ông (không biết tên, địa chỉ) tại khu vực đường dân sinh thuộc địa phận xã N, huyện M với giá 200.000VNĐ. Việc mua bán không có ai biết và chứng kiến. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện M không có căn cứ để điều tra, xác minh mở rộng vụ án. Buộc bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 0,39 gam Heroine bị thu giữ trong vụ án.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q 20 (hai mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/11/2024).

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; túi nilon màu trắng loại túi có díp khóa một đầu, mảnh giấy màu trắng, mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu (được niêm phong theo quy định).

Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Hải B 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B2-576.96, số khung RLHKC3705KY030266, số máy KC34E1062350.

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp tỉnh Sơn La;
  • - Viện KSND huyện Mai Sơn;
  • - Công an huyện Mai Sơn;
  • - Cơ quan THAHS Công an tỉnh Sơn La;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự Mai Sơn;
  • - Bị cáo,
  • - NCQLNVLQ;
  • - Lưu: Hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Minh Quân

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

Vào hồi giờ ngày 05 tháng 03 năm 2025, tại phòng nghị án.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Minh Q1

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Cầm Văn T, ông Nguyễn Đức V

Tiến hành nghị án vụ án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 70/2025/HSST ngày 07 tháng 02 năm 2025 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 71/2025/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 02 năm 2025 đối với bị cáo:

Phạm Văn Q; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 12 tháng 9 năm 1982 tại huyện V, tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La. Nơi ở hiện nay: Tiểu khu B, thị trấn Í, huyện M, tỉnh Sơn La.

Căn cứ Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Căn cứ các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH

CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:

  1. Vụ án không thuộc trường hợp tạm đình chỉ hoặc trường hợp trả hồ sơ để điều tra bổ sung.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  2. Những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; do luật sư, bị cáo, người tham gia tố tụng khác cung cấp đều hợp pháp.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  3. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  4. Bị cáo không thuộc trường hợp miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  5. Tội danh, Điều luật áp dụng và hình phạt:

    Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

    Tuyên bố bị cáo Phạm Văn Q phạm tội: "Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

    Xử phạt bị cáo Phạm Văn Q tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/11/2024).

    Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  1. Về vật chứng, tài sản: Áp dụng khoản 2 Điều 47 BLHS; điểm c khoản 2 Điều 106 BLTTHS năm 2015.

    Tịch thu tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu; túi nilon màu trắng loại túi có díp khóa một đầu, mảnh giấy màu trắng, mảnh nilon màu trắng gói ma túy ban đầu.

    Trả lại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Trần Thị Hải B 01 xe mô tô hiệu Honda Winner X, màu đỏ đen, biển kiểm soát 26B2-576.96, số khung RLHKC3705KY030266, số máy KC34E1062350.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  2. Về án phí: Áp dụng Khoản 2, Điều 135, Khoản 2 Điều 136 BLTTHS năm 2015; Điều 21, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000VNĐ.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

  3. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

    Biểu quyết: nhất trí: 3/3 = 100%.

Tiếp tục tạm giam các bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày để bảo đảm công tác thi hành án.

Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút ngày 05 tháng 03 năm 2025.

Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/HS-ST ngày 05/03/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 66/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/03/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MAI SƠN - TỈNH SƠN LA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Q - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger