Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2025/DS-PT

Ngày 03-3-2025

“Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mến

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn Thành

Ông Huỳnh Đắc Đương

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Duy Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Trần Hương Thủy - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 3 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 298/2024/TLPT-DS ngày 04 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất”

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 118/2024/DS-ST ngày 06/8/2024 và ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 27/2025/QĐ-PT ngày 17 tháng 01 năm 2025 giữa các đương sự.

- Nguyên đơn: Anh Huỳnh Văn Đ, sinh năm 1993; Địa chỉ: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

- Người đại diện của anh Huỳnh Văn Đ: Anh Trần Thanh P, sinh năm 1997; Địa chỉ: Ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (văn bản ủy quyền ngày 12/7/2022) (có mặt)

Địa chỉ liên hệ: số E T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.

- Bị đơn: Anh Kim Sô C, sinh năm 1990; Địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Kim Kh L, sinh năm 1961 (có mặt)
  2. Chị Kim Thị Sê R, sinh năm 1992 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Người đại diện ủy quyền cho ông Kim Kh L và chị Kim Thị Sê R: Chị Trần Hoàng Q, sinh năm 1993; Địa chỉ: ấp L, xã S, huyện C, tỉnh Trà Vinh (văn bản ủy quyền ngày 23/5/2023) (có mặt).

  1. Ông Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1964; Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh

Người đại diện ủy quyền cho ông Nguyễn Văn Đ1: Anh Lâm Quốc C1, sinh năm 1996; Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Kiên Giang (văn bản ủy quyền ngày 27/5/2023) (có đơn xin xét xử vắng mặt)

  1. Bà Nguyễn Thị M, sinh năm 1969; Địa chỉ: Ấp Ô, xã T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  2. Ngân hàng Thương mại cổ phần B1 (vắng mặt)
  3. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh T; Địa chỉ: Số D M, khóm C, phường F, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt)
  4. Văn phòng C2; Địa chỉ: Khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (có đơn xin xét xử vắng mặt)

- Người làm chứng: Anh Huỳnh Văn S, sinh năm 1974; Địa chỉ: khóm B, thị trấn T, huyện T, tỉnh Trà Vinh (vắng mặt)

- Người phiên dịch: Ông Thạch V – Trường trung học Cơ sở P1, huyện C, tỉnh Trà Vinh

- Người kháng cáo: Ông Kim K là nguời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 24/5/2022 của nguyên đơn anh Huỳnh Văn Đ, quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh Trần Thanh P là người đại diện cho anh Huỳnh Văn Đ trình bày:

Ngày 14/01/2022 giữa anh Huỳnh Văn Đ và anh Kim S1 Chia có ký kết hợp đồng thuê thửa đất 224 tờ bản đồ số 33 tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh được sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất cho anh Đ tại số DC 835420 ngày 11/10/2021. Thời hạn thuê là 05 năm, giá thuê là 10.000.000 đồng/ tháng, sau khi ký hợp đồng thuê đất thì có 03 người sinh sống gồm: ông Kim K; anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R, từ ngày thuê đất cho đến nay anh Kim S1 Chia không thanh toán được bất kỳ khoản tiền thuê đất nào cho anh Đ, sau 03 tháng anh C không thanh toán tiền thuê đất nên ngày 18/4/2022 giữa anh C và anh Đ đã lập một văn bản về việc chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và di dời toàn bộ tài sản đi nơi khác, nhưng anh C và những người cùng sinh sống trên đất vẫn không thực hiện. Nay anh Đ yêu cầu hủy hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 14/01/2022 giữa anh C với anh Đ, buộc anh Sô C, ông K và chị Kim Thị Sê R phải có nghĩa vụ liên đới thanh toán một lần tiền thuê đất từ ngày 14/01/2022 đến ngày mở phiên tòa xét xử sơ thẩm là 50.000.000 đồng (năm mươi triệu đồng) anh Đ không yêu cầu tính lãi.

Bị đơn anh Kim S1 Chia vắng mặt tuy nhiên tại bản tự khai ngày 07/10/2022 và tại biên bản ghi lời khai ngày 27/12/2023 anh Kim S1 Chia trình bày:

Nguồn góc thửa đất 224 có nguồn góc đất là của cha mẹ anh tên là Kim Thị Sa D (chết ngày 08/10/2019) và ông Kim K. Sau khi mẹ anh chết anh em trong nhà thống nhất để lại diện tích đất này cho cá nhân ông K đứng tên quyền sử dụng đất.

Do Cần tiền nên anh có hỏi vay của ông Nguyễn Văn Đ1 bằng 200.000.000 đồng lãi suất thỏa thuận là 6%/tháng, nhưng ông Đ1 yêu cầu phải có tài sản thế chấp thì ông Đ1 mới đồng ý cho vay, nên ông Đ1 có gợi ý có bằng khoán không, do đất cha anh đứng tên nên ông Đ1 nói ra phòng công chứng cầm bằng khoáng đi và nói dối với cha anh là ra phòng công chứng ký thế chấp vay số tiền 200.000.000 đồng, do không còn cách nào khác nên anh đã lừa dối cha anh ký tên vào tờ sang nhượng đất, sau khi ký tên vào hợp đồng chuyển nhượng đất thì ông Đ1 có đưa trực tiếp cho anh bằng 200.000.000 đồng, lúc này cũng có mặt ông KHLăng, sau khi ông Đ1 đứng tên quyền sử dụng đất anh có hỏi mượn thêm tiền của ông Đ1 rất nhiều lần mỗi lần là 100.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng, tổng số tiền mà anh đã nhận của ông Đ1 sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng là kho ảng 1.000.000.000 đồng việc anh nhận thêm tiền của ông Đ1 thì ông K hoàn toàn không biết. Do anh không còn khả năng đóng lãi cho ông Đ1 nên anh có giới thiệu anh Đ gặp ông Đ1 để chuyển nhượng phần đất thuộc thửa 224 cho anh Đ (có nghĩa là số tiền mà anh nợ ông Đ1 sẽ chuyển sang nợ của anh Đ). Sau khi anh Đ được đứng tên quyền sử dụng đất thì anh có ký hợp đồng thuê đất với anh Đ, anh không có nhận bất cứ khoản tiền nào từ anh Đ ngoài số tiền 180.000.000 đồng trước đó mà anh vay của anh Đ. Nay anh thống nhất như yêu cầu của ông Kh L đối với số tiền mà anh đã nhận của ông Đ1 thì anh đồng ý hoàn trả cho ông Đ1.

Tại yêu cầu độc lập ngày 19/12/2022 của ông Kim K, quá trình tố tụng và tại phiên tòa chị Trần Hoàng Q là người đại diện ủy quyền cho ông Kim K trình bày:

Nguồn góc thửa đất 224 có nguồn góc đất là của vợ chồng ông Kim K và bà Kim Thị Sa D (chết ngày 08/10/2019), trên thửa đất có một căn nhà cơ bản chiều ngang 06 mét chiều dài 15 mét được xây dựng vào năm 2019 với chi phí xây dựng là khoảng 1 tỉ đồng. Do phần đất này do vợ ông kê khai đăng ký nên sau khi bà Sa D mất thì hàng thừa kế của bà Sa D thống nhất để lại phần đất cho ông K đứng tên quyền sử dụng đất sau đó anh Kim S1 Chia có chở ông Kh L đến phòng công chứng Võ Văn B để làm thủ tục vay tiền của ông Đ1 với số tiền là 200.000.000 đồng, ông K hoàn toàn không biết anh C lừa gạt ông để ký hợp đồng chuyển nhượng đất, đến khoảng tháng 5/2022 thì có anh Huỳnh Văn Đ cùng một số người đến nhà ông K để yêu cầu gia đình ông K di dời tài sản đi nơi khác ông K có hỏi Kim S1 Chia thì Sô Chia mới nói rõ vụ việc cho ông biết. Do tin tưởng con nên ông K mới ký tên hợp đồng chuyển nhượng cho ông Đ1, ông hoàn toàn không có nhận bất cứ khoản tiền nào từ ông Đ1 và thửa đất 224 gia đình ông K vẫn quản lý sử dụng từ trước cho đến nay. Nay ông K yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông với Nguyễn Văn Đ1; hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Đ1 với anh Huỳnh Văn Đ.Về hậu quả của hợp đồng yêu cầu Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên chị Kim Thị Sê R thống nhất theo như lời trình bày của ông Kim K và chị Trần Hoàng Q.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 31/5/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn Đ1 quá trình tố tụng và tại phiên tòa anh Lâm Quốc C1 là người đại diện cho ông Nguyễn Văn Đ1 trình bày:

Vào khoảng đầu năm 2020 ông Kim K và anh Kim S1 Chia có nhu cầu cầm cố đất cho ông Đ1 tuy nhiên việc cầm cố không được pháp luật cho phép nên ông Đ1 đã không đồng ý vì vậy giữa ông Đ1 với ông K và ông C thống nhất ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá làm 200.000.000 đồng, khi nào ông K và anh C có tiền thì ông Đ1 sẽ ưu tiên cho mua lại với giá 200.000.000 đồng, thời điểm đó giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên do vợ ông K đứng tên nên ông K và anh C đã chủ động đi thực hiện thủ tục đăng ký biến động để ký chuyển nhượng cho ông Đ1. Ngày 28/5/2020 ông Đ1, ông K và anh C ra phòng công chứng ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số CS 374314 diện tích là 1878,1 thuộc thửa đất số 224 tờ bản đồ số 33 với giá là 200.000.000 đồng khoảng thời gian sau thì anh C và ông K có tìm đến ông Đ1 thỏa thuận muốn nhận thêm tiền chuyển nhượng với lý do ông K bệnh đang cần tiền khám chữa bệnh nên ông Đ1 đồng ý đưa thêm 800.000.000 đồng và ông K và anh C đồng ý bán dứt phần diện tích nhà và đất cho ông Đ1.

Ngày 24/9/2021 do thiếu nợ Ngân hàng nên ông Đ1 có liên hệ với anh C và ông K để hỏi muốn mua lại hay không thì anh C và ông K không có khả năng mua lại nên giới thiệu anh Huỳnh Văn Đ cho ông Đ1. Do cần tiền nên vợ chồng ông Đ1 đồng ý chuyển nhượng lại cho anh Đ với giá là 1.000.000.000 đồng, nhưng hợp đồng hai bên chỉ thể hiện là 220.000.000 đồng. Tại thời điểm ký kết hợp đồng các bên đều biết đây là hợp đồng chuyển nhượng hoàn toàn không bị lừa dối hay ép buộc, ông K và anh C còn chủ động đi làm thủ tục chỉnh lý để hợp thức hóa hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho ông Đ1. Do vậy yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 705 ngày 28/5/2020 giữa ông K với ông Nguyễn Văn Đ1 là hợp pháp – Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1990 ngày 24/9/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1 với anh Huỳnh Văn Đ là hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị M thống nhất như lời trình bày của ông Nguyễn Văn Đ1.

Tại bản tự khai ngày 24/3/2023 văn phòng công chứng Võ Văn B trình bày: Ngày 28/5/2020 văn phòng C2 có công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 705 quyển số 01/2020/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/5/2020 giữa ông Kim K và ông Nguyễn Văn Đ1 đối với diện diện tích 1.878,1 m² thuộc thửa 224 tờ bản đồ số 33 loại đất trồng cây hàng năm khác tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Ngày 24/9/2021 văn phòng C2 có công chứng Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất quyển số 03/2021/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2021 của văn phòng C2 Võ Văn B giữa ông Nguyễn Văn Đ1 cùng với vợ là bà Nguyễn Thị M với ông Huỳnh Văn Đ diện tích 1.878,1 m² thuộc thửa 224 tờ bản đồ số 33 loại đất trồng cây hàng năm khác tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh

Qua kiểm tra thì tại thời điểm công chứng hợp đồng thì thửa đất không có tranh chấp, quyền sử dụng đất không bị phong tỏa hay kê biên để đảm bảo thi hành án. Do đó công chứng viên đã thực hiện công chứng theo yêu cầu của các bên. Đề nghị, Tòa án giải quyết tranh chấp theo quy định của pháp luật.

Tại bản tự khai ngày 31/3/2023 sở tài nguyên và môi trường tỉnh Trà Vinh trình bày:

  • * Ngày 01/6/2020 bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân huyện T tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động đất đai của ông Nguyễn Văn Đ1 (do nhận chuyển nhượng từ ông Kim K) đối với thửa đất 224, tờ bản đồ số 33 diện tích 1.878,1 m² mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Hồ sơ gồm:
  1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được văn phòng C2 công chứng số 705, quyển số 01/2020 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/5/2020
  2. Bản gốc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành CS 374314, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05488 được Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 22/8/2019 cho ông Kim K và bà Kim Thị Sa D. Ngày 20/5/2020 được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận thừa kế cho ông Kim K
  3. Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất;
  4. Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất;
  5. Tờ khai thuế thu nhập cá nhân

Hồ sơ được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T tiếp nhận thực hiện theo quy định và Sở Tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho Huỳnh Văn Đ (thông qua văn phòng đăng ký đất đai thẩm tra, in giấy chứng nhận) thửa đất 224, tờ bản đồ số 33 diện tích 1.878,1 m² mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Đến ngày 11/10/2021 được Sở Tài nguyên môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có số phát hành DC 835420 cho Huỳnh Văn Đ. Căn cứ vào khoản 4 Điều 95; điểm c khoản 1 Điều 99 và Điều 188 luật đất đai năm 2013; Căn cứ khoản 5 Điều 37 và khoản 1,2 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-Cp ngày 15/5/2014 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 17 và khoản 1 Điều 19 thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ trưởng Bộ T quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Căn cứ khoản 2 Điều 9 thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của bộ trưởng bộ T được sửa đổi bổ sụng tại khoản 2 Điều 7 thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của bộ trưởng bộ T và môi trường việc Sở T cấp giấy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho Huỳnh Văn Đ là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật

Việc Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận, chỉnh lý biến động chuyển nhượng đối với thửa đất số 224 tờ bản đồ số 33 cho ông Nguyễn Văn Đ1 vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có số phát hành CS374314 ngày 02/6/2020 là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật.

  • * Đối với việc Sở T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất tại số phát hành DC 83.54.20 đối với thửa đất 224 tờ bản đồ số 33 cho anh Huỳnh Văn Đ vào ngày 11/10/2021:

Ngày 24/9/2021 bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ủy ban nhân dân huyện T tiếp nhận hồ sơ đăng ký biến động đất đai của anh Huỳnh Văn Đ (do nhận chuyển nhượng từ ông Nguyễn Văn Đ1) đối với thửa đất 224, tờ bản đồ số 33 diện tích 1.878,1 m² mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Hồ sơ gồm:

  1. Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được văn phòng C2, quyển số 03/2021 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 24/9/2021
  2. Bản gốc giất chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số phát hành CS 374314, số vào sổ cấp giấy chứng nhận CS05488 được Sở tài nguyên và môi trường cấp ngày 22/8/2019 cho ông Kim K và bà Kim Thị Sa D. Ngày 02/6/2020 được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T xác nhận chuyển nhượng cho ông Nguyễn Văn Đ1
  3. Đơn đăng ký biến động đất đai, tài sản gắn liền với đất;
  4. Tờ khai lệ phí trước bạ nhà, đất;
  5. Tờ khai thuế thu nhập cá nhân;

Hồ sơ được chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai huyện T tiếp nhận thực hiện theo quy định và Sở Tài nguyên và môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho Huỳnh Văn Đ (thông qua văn phòng đăng ký đất đai thẩm tra, in giấy chứng nhận) thửa đất 224, tờ bản đồ số 33 diện tích 1.878,1 m² mục đích sử dụng là đất trồng cây hàng năm khác đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh. Đến ngày 11/10/2021 được Sở Tài nguyên môi trường cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất có số phát hành DC 835420 cho Huỳnh Văn Đ. Căn cứ vào khoản 4 Điều 95; điểm c khoản 1 Điều 99 và Điều 188 luật đất đai năm 2013; Căn cứ khoản 5 Điều 37 và khoản 1,2 Điều 79 Nghị định số 43/2014/NĐ-Cp ngày 15/5/2014 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của luật đất đai; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 17 và khoản 1 Điều 19 thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ trưởng Bộ T quy định về giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất; Căn cứ khoản 2 Điều 9 thông tư 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của bộ trưởng bộ T được sửa đổi bổ sụng tại khoản 2 Điều 7 thông tư 33/2017/TT-BTNMT ngày 29/9/2017 của bộ trưởng bộ T và môi trường việc Sở T cấp giấy cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất cho Huỳnh Văn Đ là đúng trình tự thủ tục theo quy định của pháp luật

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 và ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh đã xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Văn Đ. Chấm dứt hợp đồng thuê đất quyền sử dụng đất ngày 14/01/2022 giữa anh Huỳnh Văn Đ với anh Kim Sô C. Buộc anh Kim Sô C phải trả số tiền thuê đất cho anh Huỳnh Văn Đ bằng 50.000.000 đồng.

Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Kim K, ông Kim K được tiếp tục quản lý phần đất diện tích bằng 238,9 m² (vị trí C) trong đó gắn liền với căn nhà có diện tích 123,4 m²(vị trí C1) . Ông Kim K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải có nghĩa vụ hoàn trả giá trị đất cho anh Huỳnh Văn Đ theo biên bản định giá ngày 21/5/2024 bằng 621.140.000 đồng.

Buộc ông K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải giao trả diện tích đất 1.639,2 m² (vị trí A, B và D) cùng các loại cây trái trên thửa 224 tờ bản đồ số 33 loại đất trồng cây hàng năm khác tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho anh Huỳnh Văn Đ.

Buộc ông K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải tháo dở căn nhà phần vị trí B1 diện tích 24,8 m² có kết cấu cột bê tông cốt thép đúc sẵn, không móng, vách tôl, máy tôl có kết cấu đỡ bằng gỗ nền gạch men không trần (trong phần diện tích 24,8 m² có một nhà vệ sinh có kết cấu móng cột bê tông cốt thép tường xây gạch, nền gạch men máy tôl có diện tích là 8,235 m²).

Buộc ông Kim K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải tháo dở căn nhà bếp có kết cấu nhà tre lá nền đất diện tích 18 m² và một giếng bơm tay có gắn mô tưa để trả lại diện tích đất cho anh Đ.

Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 705 ngày 28/5/2020 giữa ông K với ông Nguyễn Văn Đ1 là hợp pháp – Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1990 ngày 24/9/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1 với anh Huỳnh Văn Đ là hợp pháp.

Ngày 18/9/2024 ông Kim Kh L kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Kim Kh L, huỷ HĐ chuyển nhượng QSD thửa đất 224 giữa ông Kh L với ông Đ1; huỷ HĐ chuyển nhượng QSD thửa đất 224 giữa ông Đ1 với bà M ông Đ. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Đ, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Đ1.

Tại phiên tòa phúc thẩm nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ kiện.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Hội đồng xét xử. Từ khi thụ lý vụ án đến khi quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán đã thực hiện đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 trong quá trình giải quyết vụ án. Tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 về việc xét xử phúc thẩm. Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Đối với đương sự từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa hôm nay các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về nội dung vụ án: Căn cứ theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cũng như diễn biến và tranh tụng công khai tại phiên toà hôm nay. Xét thấy yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Kim Kh L yêu cầu tòa án cấp phúc thẩm hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập vào ngày 28/5/2020 giữa ông Kim K và ông Nguyễn Văn Đ1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Đ1 cùng với vợ là bà Nguyễn Thị M với ông Huỳnh Văn Đ. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Văn Đ, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1 là không có căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Kim Kh L. Riêng sửa Bản án sơ thẩm số 118/2024/DS-ST ngày 06 tháng 8 và ngày 09 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh. Lý do tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay người đại diện hợp pháp của nguyên đơn tự nguyện bồi thường giá trị tài sản trên đất được cấp sơ thẩm công nhận là nhà sau có diện tích 24,8m² và nhà vệ sinh 8.235m² và giếng bơm tay có giá trị 81.508.091 (tám mươi mốt triệu năm trăm lẻ tám nghìn không trăm chín mươi mốt nghìn đồng).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ của các đương sự và quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: sau khi xét xử sơ thẩm người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Kim Kh L kháng cáo, việc kháng cáo của đương sự còn trong hạn luật định nên thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh theo quy định tại Điều 38 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Xét về yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Kim Kh L yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập vào ngày 28/5/2020 giữa ông Kim K và ông Nguyễn Văn Đ1. Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa ông Nguyễn Văn Đ1 cùng với vợ là bà Nguyễn Thị M với ông Huỳnh Văn Đ. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Huỳnh Văn Đ, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1, Hội đồng xét xử nhất thấy:

[3] Đối với Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Kim K với ông Nguyễn Văn Đ1: Hợp đồng chuyển nhượng diện tích đất 1.878,1m², thuộc thửa số 224, tờ bản đồ số 33, đất tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T giữa ông Kim K với ông Nguyễn Văn Đ1 được xác lập vào ngày 28/5/2020 tại Văn phòng C2. Lúc ký Hợp đồng về sức khỏe của ông Kh L là hoàn toàn minh mẫn và ông tự nguyện xác lập, không có sự bắt buộc, không vi phạm điều cấm của pháp luật. Sau khi lập hợp đồng chuyển nhượng xong, Công chứng viên có đọc lại cho ông K nghe nội dung trong Hợp đồng, ông K thừa nhận và đồng ý ký tên và điểm chỉ vào hợp đồng. Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh T đã chỉnh lý biến động đối với thửa đất số 224, tờ bản đồ số 33 cho ông Đ1 vào giấy chứng nhận QSDĐ ngày 02/6/2020 là đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật.

Về phía ông Đ1 đã giao trả tiền đầy đủ cho phía ông K và anh C (con ông K), về diện tích đất và tài sản có trên đất (nhà ở) thì gia đình ông K vẫn còn sử dụng. Do ông Đ1 không cung cấp được chứng cứ, chứng minh là khi chuyển nhượng QSDĐ trong đó có luôn nhà ở của ông K. Nên Toà án cấp sơ thẩm chỉ chấp nhận đối với việc chuyển nhượng QSDĐ giữa ông K với ông Đ1, không chấp nhận việc chuyển nhượng luôn nhà ở.

Đối với căn nhà hiện nay, phía gia đình ông K đã xây cất ở trên phần đất đã chuyển nhượng cho ông Đ1 trước đây, nhà đất được xây dựng kiên cố, không thể di dời để giao trả diện tích đất được, nên chấp nhận cho ông K được tiếp tục ở, ông K có nghĩa vụ trả giá trị đất gắn liền diện tích 362,3m² theo sơ đồ (phần C; C1) nằm trong khuôn viên nhà ở cho ông Đ là hợp tình hợp lý.

[4] Đối với Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông ông Nguyễn Văn Đ1 với anh Huỳnh văn Đ.

Ngày 24/9/2021 ông Đ1 xác lập Hợp đồng chuyển nhượng toàn bộ QSD thửa đất 224 cho anh Đ tại Văn phòng C2. Ngày 11/10/2022 anh Đ được Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh T cấp giấy chứng nhận QSDĐ đối với thửa số 224, tờ bản đồ số 33, diện tích 1.878,1m².

Tại thời điểm công chứng hợp đồng chuyển nhượng QSD thửa đất 224 không có tranh chấp, không bị kê biên phong tỏa, Công chứng viên thực hiện công chứng hợp đồng theo yêu cầu của các bên. Do đó, công nhận Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Đ1 với anh Đ là hợp pháp, nhưng trừ ra phần diện tích đất 362,3m² theo sơ đồ (phần C; C1) nằm trong khuôn viên nhà ở của ông K.

[5] Đối với Hợp đồng thuê QSDĐ giữa anh Đ với anh C: Ngày 14/01/2022 giữa anh Đ với anh C xác lập Hợp đồng thuê QSD thửa đất 224, tờ bản đồ số 33 diện tích 1.878,1m² thời hạn thuê theo Hợp đồng là 60 tháng, kể từ ngày 14/01/2022 đến ngày 14/01/2027. Giá thuê là 10.000.000đ/tháng, phương thức thanh toán hàng tháng, vào ngày đầu của mỗi tháng. Hợp đồng được hai bên xác lập Văn phòng C2. Từ ngày ký Hợp đồng đến nay, phía anh C chưa có thanh toán được cho anh Đ số tiền nào, do đó anh C đã vi phạm theo các điều khoản theo Hợp đồng đã được ký kết. Ngày 18/4/2022 giữa anh C và anh Đ có lập bản cam kết “V/v chấm dứt hợp đồng thuê QSDĐ và di dời tài sản đi nơi khác”.

Xét thấy Hợp đồng thuê đất anh Đ trực tiếp xác lập với anh C, việc thỏa thuận giữa anh Đ và anh C là tự nguyện, nên Toà án cấp sơ thẩm buộc anh C có nghĩa vụ thanh toán tiền thuê đất cho anh Đ số tiền là 50.000.000 đồng là có căn cứ.

Từ những nhận định và phân tích trên xét thấy yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Kim Kh L là không có căn cứ để Hội đồng xét xử chấp nhận.

Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay người đại diện hợp pháp của ông Đ là anh Trần Thanh P xét thấy căn nhà sau có diện tích 24,8m² và nhà vệ sinh 8.235m² và giếng bơm tay trong này có nhà lá là 38m² đây là tài sản có kết cấu cốt thép kiến trúc vậy không thể di dời được, do đó người đại diện hợp pháp của ông Đ tự nguyện nhận tài sản này và trả giá trị bằng tiền là 81.508.091 (tám mươi mốt triệu năm trăm lẻ tám nghìn không trăm chín mươi mốt nghìn đồng). Nhằm ổn định tình hình chính trị địa phương không phải tháo dỡ làm mất ổn định vì vậy việc tự nguyện này của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật được Hội đồng xét xử ghi nhận. Việc sửa án cấp sơ thẩm không có lỗi do sự tự nguyện của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên xét xử phúc thẩm là phù hợp với quy định pháp luật cũng như nhận định trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[7] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của ông Kim Kh L không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc nhưng do ông Kim Kh L là người cao tuổi, nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của Kim KHLăng.

Sửa một phần Bản án số 118/2024/DSST ngày 06/8 và ngày 09/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của anh Huỳnh Văn Đ. Chấm dứt hợp đồng thuê đất quyền sử dụng đất ngày 14/01/2022 giữa anh Huỳnh Văn Đ với anh Kim Sô C. Buộc anh Kim Sô C phải trả số tiền thuê đất cho anh Huỳnh Văn Đ bằng 50.000.000 đồng.

2. Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Kim K, ông Kim K được tiếp tục quản lý phần đất diện tích bằng 238,9 m² (vị trí C) trong đó gắn liền với căn nhà có diện tích 123,4 m²(vị trí C1) . Ông Kim K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải có nghĩa vụ hoàn trả giá trị đất cho anh Huỳnh Văn Đ theo biên bản định giá ngày 21/5/2024 bằng 621.140.000 đồng.

Buộc ông K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải giao trả diện tích đất 1.639,2 m² (vị trí A, B và D) cùng các loại cây trái trên thửa 224 tờ bản đồ số 33 loại đất trồng cây hàng năm khác tọa lạc tại ấp T, xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh cho anh Huỳnh Văn Đ.

Buộc ông K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải tháo dở căn nhà phần vị trí B1 diện tích 24,8 m² có kết cấu cột bê tông cốt thép đúc sẵn, không móng, vách tôl, máy tôl có kết cấu đỡ bằng gỗ nền gạch men không trần và một nhà vệ sinh có kết cấu móng cột bê tông cốt thép tường xây gạch, nền gạch men máy tôl có diện tích là 8,235 m² và một giếng bơm tay có gắn mô tưa để trả lại diện tích đất cho anh Đ. Buộc ông K, anh Kim Sô C và chị Kim Thị Sê R phải tháo dở căn nhà bếp có kết cấu tre lá, nền đất cho anh Đ.

Chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn Đ1. Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 705 ngày 28/5/2020 giữa ông K với ông Nguyễn Văn Đ1 là hợp pháp – Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất số 1990 ngày 24/9/2021 giữa vợ chồng ông Nguyễn Văn Đ1 với anh Huỳnh Văn Đ là hợp pháp.

Buộc anh Huỳnh Văn Đ phải có nghĩa vụ trả giá trị nhà vệ sinh, nhà dưới, và giếng bơm tay có trị giá là 81.508.091 (tám mươi mốt triệu năm trăm lẻ tám nghìn không trăm chín mươi mốt nghìn đồng). Tuy nhiên số tiền này trừ vào số tiền trả giá trị đất là 621.140.000 đồng

(Kèm theo là sơ đồ khu đất theo công văn số 1241/CNHTC-KT ngày 20/6/2024 của chi nhánh văn phòng đăng ký đất huyện T).

Về án phí phúc thẩm: Miễn án phí cho ông Kim K.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Trà Vinh;
  • - TAND huyện Tiểu Cần;
  • - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mến

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 66/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất và hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 03/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng Thuê QSD đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger