|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày 12-12-2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Bân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Du
Ông Tạ Đình Thành
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Vui – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Phúc Vinh - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 12 năm 2024 tại Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 67/2024/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Văn P (Phương Á), sinh năm 1986 tại Bình Phước;
HKTT: Thôn Nhơn Hòa 1, xã Long Giang, thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước; Nơi ở hiện nay: khu phố A, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước; Nghề nghiệp: làm nông; Trình độ văn hoá (học vấn) 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Phật giáo; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn N và bà Dương Thị P1; Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị Nguyễn Thị Ngọc G và có hai người con lớn nhất sinh năm 2016, nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: không; Nhân thân: Ngày 26/8/2011 bị Tòa án nhân dân thị xã Phước Long xử phạt 30 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 53 tháng về tội “Cố ý gây thương tích” tại Bản án số 58/2011/HSST (Đã được xóa án tích); bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thị xã P từ ngày 19/12/2023 đến nay; Có mặt tại phiên tòa.
Người làm chứng:
- Anh Điểu V, sinh năm 1999, HKTT: Thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Chị Nguyễn Thị Hoài M, sinh năm 1998, địa chỉ: Số nhà A đường số B, tổ D, khu phố C, phường B, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh.
- Chị Nguyễn Thị Ngọc G, sinh năm 1992, địa chỉ: Khu phố A, phường T, TX P, tỉnh Bình Phước.
- Bà Phan Thị T, sinh năm 1964, địa chỉ: Khu phố A, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
- Bà Lương Thị H, sinh năm 1962, địa chỉ: Khu phố A, phường T, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
(Tất cả những người làm chứng vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn P là đối tượng nghiện hút ma túy nên sáng ngày 19/12/2023 P đến tiệm game bắn cá thuộc khu phố E, phường L, thị xã P thì gặp một thanh niên (P không biết tên) có biểu hiện sử dụng ma túy giống P, P hỏi có chỗ nào lấy đồ không (ma túy) lấy cho 2.000.000 đồng, người này nói có và bảo P đưa tiền để đi lấy, P lấy 2.000.000 đồng đưa cho người thanh niên, sau khi lấy tiền thì người này lấy trong túi quần ra 01 gói nylon dạng khóa miết kích thước khoảng (3x8) cm bên trong có chứa ma túy đá đưa cho P, P cầm bỏ vào túi quần và đi về phòng trọ Ngọc H1 thuộc khu phố A, phường T, thị xã P. Sau khi về đến phòng trọ P lấy một ít ma túy cho vào 01 gói nylon dạng khóa miết rồi bỏ vào túi xách màu đen treo trên tường để khi nào hết còn có để sử dụng, số ma túy còn lại P để trong hộp gỗ trong phòng để sử dụng. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày P lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy của P đã mua từ trước ra rồi đổ ma túy vào để sử dụng, khi sử dụng thì có Điểu V, (người ở cùng phòng trọ với P) thấy P để sẵn bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên V lấy sử dụng, khi cả hai đang sử dụng ma túy thì thấy có Nguyễn Thị Hoài M đến phòng, lúc này do chiếc nỏ bị bể nên P thay nỏ khác và bỏ ma túy vào khò nóng tiếp tục sử dụng, M có hỏi xin P cho M sử dụng ma túy nhưng P nói không cho vì sợ chồng M biết sẽ chửi P. Sau khi P sử dụng xong, P lên võng nằm quay mặt vào trong xem điện thoại rồi lơ mơ ngủ. M thấy có bộ dụng cụ sử dụng ma túy để sẵn nên M đã tự ý sử dụng, không có ai đưa ma túy hay bộ dụng cụ cho M, khi M sử dụng ma túy P cũng không biết. Lực lượng Công an đến kiểm tra và bắt quả tang về hành vi của Nguyễn Văn P.
Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, bên trong nỏ thủy tinh của bộ D dùng để sử dụng ma túy phát hiện có chất màu trắng; 01 gói nylon có kích thước (3x8)cm bên trong chứa chất tinh thể màu trắng được đựng trong một hộp gỗ; 01 (một) gói nylon kích thước (3x8)cm bên trong chứa 01 (một) gói nylon kích thước (3x8)cm chứa ma túy đá ở túi xách màu đen treo trên tường;10 đoạn ống hút trong suốt; 14 gói nylon màu trắng dạng khóa miết (bên trong không có gì) kích thước (3x8)cm; 02 cái khò lửa, 01 bình ga mini, 01 cái kéo inox, 01 bật lửa, 07 đoạn ống thủy tinh.
Tại bản kết luận giám định số 1264/KL-KTHS ngày 24/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- + Tinh thể màu trắng ký hiệu M1, M3 được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng lần lượt là: M1 = 3,9945 gam; M3 = 0,5001 gam.
- + Chất màu trắng – vàng ký hiệu là M2 bên trong ống thủy tinh được niêm phong gửi đi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, có khối lượng là: 0,1530 gam.
Tổng khối lượng ma túy thu giữ = 4,4676 gam (bốn bảy bốn sáu bảy sáu gam).
Ngày 27/12/2023, Nguyễn Văn P bị khởi tố bị can để điều tra.
Tại bản cáo trạng số 55/CT-VKS ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long đã truy tố Nguyễn Văn P về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy đinh tại điểm c khoản 1 Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo P; bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự là thành khẩn khai báo.
Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo P từ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung của hai tội buộc bị cáo phải chấp hành.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong 4,3056 gam loại Methamphetamine, 10 đoạn ống hút trong suốt, 14 gói nylon màu trắng dạng khóa miết (bên trong không có gì) kích thước (3x8)cm, 02 cái khò lửa, 01 bình ga mini, 01 cái kéo inox, 01 bật lửa, 07 đoạn ống thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy), 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm chai nhựa và ống hút màu xanh lá cây).
Đối với việc Nguyễn Thị Hoài M đến phòng trọ của P để tìm chồng, sau đó M có hỏi xin P cho M sử dụng ma túy nhưng P nói không cho vì sợ chồng M biết sẽ chửi P. Sau khi sử dụng xong P lên võng nằm, quay mặt vào trong xem điện thoại. M thấy bộ dụng cụ ma túy để sẵn nên đã tự ý lấy sử dụng. Do P không biết M sử dụng, không hưởng lợi vật chất từ M nên không có cơ sở để chứng minh việc P tổ chức cho M sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Điểu V và Nguyễn Thị Hoài M, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ về nơi V và M cư trú để lập hồ sơ giáo dục tại xã phường theo quy định.
Đối với 01 người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch là người đã bán cho P số ma túy trên, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Bị cáo P tự bào chữa: Thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố và không có ý kiến tranh luận.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của mình là sai trái, rất hối hận nên mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ được và kết luận giám định trong quá trình điều tra, cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Ngày 19/12/2023 tại phòng trọ của P (nhà trọ N) thuộc khu phố A, phường T, thị xã P, P đã có hành vi cung cấp ma tuý và dụng cụ sử dụng ma tuý tổ chức cho Điểu V sử dụng trái phép chất ma tuý. Ngoài ra, bị cáo có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, hai hành vi trên đã bị lực lượng Công an bắt quả tang; căn cứ vào kết luận giám định tổng khối lượng bị cáo tàng trữ là 4,4676 gam được xác định là ma túy, loại Methamphetamine. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, là nguyên nhân phát sinh các tệ nạn xã hội. Bản thân bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức rõ hành vi vi phạm của mình nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 249 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại Điều 255 Bộ luật hình sự. Bị cáo P không biết việc M sử dụng ma túy mà do M tự ý sử dụng ma túy của P đễ sẵn ở đó, bị cáo P cũng không hưởng lợi vật chất từ M, bị cáo P chuẩn bị công cụ, ma túy không nhằm cho M sử dụng nên không có cơ sở để chứng minh việc P tổ chức cho đối tượng M sử dụng trái phép chất ma túy. Do đó, Viện kiểm sát truy tố và luận tội bị cáo theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 và khoản 1 Điều 255 của Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự và được xem xét khi quyết định mức hình phạt cho bị cáo.
[4] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[5] Về vật chứng vụ án:
- Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong 4,3056 gam.
- Tịch thu tiêu hủy: 10 đoạn ống hút trong suốt, 14 gói nylon màu trắng dạng khóa miết (bên trong không có gì) kích thước (3x8)cm, 02 cái khò lửa, 01 bình ga mini, 01 cái kéo inox, 01 bật lửa, 07 đoạn ống thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy), 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm chai nhựa và ống hút màu xanh lá cây).
[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Điểu V và Nguyễn Thị Hoài M, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã chuyển hồ sơ về nơi V và M cư trú để lập hồ sơ giáo dục tại xã phường theo quy định là đúng nên không xem xét.
Đối với 01 người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch là người đã bán cho P số ma túy trên, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của người này nên Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau nên không xem xét.
[7] Quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ, phù hợp với quy định pháp luật, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên được ghi nhận.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn P (Phương Á) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; các Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ khoản 1 Điều 255; các Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn P 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Nguyễn Văn P phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và “Tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” là 04 (bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 19/12/2023.
Tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định là 4,3056 gam loại Methamphetamine; 10 đoạn ống hút trong suốt, 14 gói nylon màu trắng dạng khóa miết kích thước (3x8) cm, 02 cái khò lửa, 01 bình ga mini, 01 cái kéo inox, 01 bật lửa, 07 đoạn ống thủy tinh, 01 nỏ thủy tinh (dụng cụ sử dụng ma túy), 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng ma túy (gồm chai nhựa và ống hút màu xanh lá cây).
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Công an thị xã P với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phước Long ngày 17/5/2023).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự;
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (12/12/2024).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Ngọc B |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 12/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn p phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
