Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH QUẢNG NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST

Ngày 29/11/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thúy Hằng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Phi Long

Ông Đỗ Xuân Hoài

Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mộc Anh - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 66/2024/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 10 năm 2024, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 62/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 06 tháng 11 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Hải Y, sinh năm 1989; nơi cư trú: tổ dân phố Q, thị trấn M, huyện T, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

- Bị đơn: anh Phạm Đức H, sinh năm 1996; nơi ĐKTT: tổ D, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: 9 V.11, huyện N, quận B, tỉnh Rayong, Vương quốc Thái Lan; vắng mặt (có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hải Y trình bày:

Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Phạm Đức H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh ngày 17/01/2019. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân ban đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không tìm được tiếng nói chung. Từ đầu năm 2023, anh H sang Thái Lan làm ăn và ở lại đó cho đến nay, không quan tâm đến gia đình, vợ con. Chị Y đã đưa con về nhà bố mẹ đẻ của chị Y tại huyện T, thành phố Hải Phòng sinh sống. Chị Y và anh H không còn tình cảm với nhau, cuộc sống hôn nhân không còn, chỉ tồn tại trên danh nghĩa. Chị Y yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho chị Y được ly hôn với anh H.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Phạm Đức H có 01 con chung là Phạm Công T, sinh ngày 12/12/2020. Chị Y yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị Y tiếp tục là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung, chị Y không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho con.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Y không yêu cầu Toà án giải quyết.

* Tại Đơn trình bày quan điểm đề ngày 31/10/2024 của bị đơn anh Phạm Đức H (đã được chứng thực của Đ tại V Thái Lan ngày 01/11/024), thể hiện:

Anh Phạm Đức H và chị Nguyễn Thị Hải Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, đăng ký kết hôn ngày 17/01/2019 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh. Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân ban đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, tình cảm vợ chồng ngày càng xa cách. Từ đầu năm 2023, anh H đi làm ăn xa và vợ chồng đã sống ly thân từ đó đến nay, mâu thuẫn càng trầm trọng và không có khả năng hàn gắn. Anh H đồng ý ly hôn với chị Y.

Về con chung: anh H và chị Y có 01 con chung là Phạm Công T, sinh ngày 12/12/2020. Anh H đồng ý để chị Y trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không có, anh H, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Anh H đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải; đề nghị Tòa án giải quyết, xét xử vắng mặt anh H.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:

[1] Về tố tụng: căn cứ đơn khởi kiện, các tài liệu chứng cứ kèm theo đơn khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Hải Y và tài liệu, chứng cứ thu thập được trong quá trình tố tụng, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”; bị đơn anh Phạm Đức H, sinh năm 1996; nơi ĐKTT: tổ D, khu A, phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh; nơi ở hiện nay: 9 V.11, huyện N, quận B, tỉnh Rayong, Vương quốc T. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38 của Bộ luật Tố tụng dân sự và khoản 2 Điều 123 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Ninh.

Chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Phạm Đức H đều vắng mặt tại phiên tòa, đều đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và công bố các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Phạm Đức H đăng ký kết hôn vào ngày 17/01/2019 tại Ủy ban nhân dân phường Q, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh trên cơ sở tự nguyện là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

Sau khi kết hôn, cuộc sống hôn nhân ban đầu hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn, theo chị Y và anh H trình bày là do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống; từ đầu năm 2023, anh H đi làm ăn tại Thái Lan, vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng và không có khả năng hàn gắn,... Chị Y yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với anh H, anh H chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y. Căn cứ Điều 51 và Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, xét thấy chị Y và anh H không còn sống chung, vợ chồng không thực hiện nghĩa vụ thương yêu, tôn trọng, chăm sóc, quan tâm giúp đỡ nhau cả về vật chất và tinh thần, không cùng nhau chia sẻ công việc trong gia đình theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, nên có căn cứ chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh H.

[2.2] Về con chung: chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Phạm Đức H có 01 con chung là Phạm Công T, sinh ngày 12/12/2020. Chị Y có quan điểm: khi ly hôn, yêu cầu Tòa án giao con chung cho chị Y là người trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi); chị Y không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng cho con. Anh H có quan điểm phù hợp với quan điểm của chị Y về phần nuôi con chung. Căn cứ quy định tại Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử đã chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Y đối với anh H nên chấp nhận yêu cầu, quan điểm của chị Y và anh H về việc nuôi con chung như nêu trên. Anh H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Phạm Đức H không yêu cầu Toà án giải quyết.

[3] Về án phí sơ thẩm: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm chị Y đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005906 ngày 17/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

[4] Về quyền kháng cáo: các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm a khoản 2 Điều 38; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227; khoản 1 Điều 228; Điều 238; Điều 271; Điều 273 và Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điều 51; Điều 56; Điều 81; khoản 1, 3 Điều 82; Điều 83 và khoản 2 Điều 123 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014. Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Hải Y.

[1] Về quan hệ hôn nhân: chị Nguyễn Thị Hải Y được ly hôn anh Phạm Đức H.

[2] Về con chung: giao cho chị Nguyễn Thị Hải Y trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung Phạm Công T, sinh ngày 12/12/2020 cho đến khi thành niên (đủ 18 tuổi). Anh Phạm Đức H không phải cấp dưỡng cho con.

Sau khi ly hôn, anh Phạm Đức H có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu anh Phạm Đức H lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì chị Nguyễn Thị Hải Y có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Hoặc nhận thấy chị Nguyễn Thị Hải Y không đủ điều kiện bảo đảm quyền, lợi ích của con thì anh Phạm Đức H có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: không có, chị Nguyễn Thị Hải Y và anh Phạm Đức H không yêu cầu Toà án giải quyết.

[4] Về án phí: căn cứ quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326 /2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Nguyễn Thị Hải Y phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Được trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí sơ thẩm, chị Y đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0005906 ngày 17/10/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Quảng Ninh.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho: chị Nguyễn Thị Hải Y biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật; anh Phạm Đức H biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND tỉnh Quảng Ninh;
  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - Cục THADS tỉnh Quảng Ninh;
  • - UBND phường Quang Trung, Tp. Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger