TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HSST Ngày 18 tháng 11 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quang Khang
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Sứ
Ông Nguyễn Thành Nhạn
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trần Công Minh - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Chí Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 78/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: PHẠM HOÀNG T, sinh ngày 24/9/1988; tại tỉnh Bạc Liêu;
ĐKHKTT: ấp K, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu; Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T1, sinh năm 1938 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1939; Tiền án, Tiền sự: Không có; Nhân thân: Ngày 14/8/2024 bị Tòa án nhân dân thị xã Giá Rai áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Bị cáo tại ngoại – đang chấp hành biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc (có mặt).
Bị hại: Châu Khánh V, sinh năm 2003; Nơi cư trú: ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Châu Thành H1, sinh năm 1966; Nơi cư trú: ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 28/5/2024, Phạm Hoàng T điều khiển xe mô tô biển số 52U2-3996 đi vào đường C khi đi ngang nhà Châu Thành H1 thuộc ấp A, xã T, thị xã G thì nhìn thấy xe mô tô Wave alpha biển số 94D1-549.20 của Châu Khánh V đậu trước sân nên T nảy sinh ý định chiếm đoạt. Sau đó, Phạm Hoàng T chạy xe (biển số 52U2-3996) về nhà rồi kêu anh ruột tên Phạm Văn C chở T đi công việc. Khi được C chở đến nhà Châu Thành H1 thì T xuống xe, C chạy xe đi. Lúc này, Phạm Hoàng T đi đến vị trí xe 94D1-549.20 dẫn xe đi một đoạn rồi khởi động máy (do chìa khóa vẫn còn cắm vào ổ khóa) chạy xe đến tiệm cầm đồ T2 và tiệm cầm đồ ở gần chợ T4 để cầm xe nhưng do xe không có giấy tờ nên những người chủ tiệm không đồng ý cầm xe. Tiếp sau đó, Phạm Hoàng T chạy xe đến nhà ông Nguyễn Văn T3 (cậu ruột của T) để gửi xe rồi đi về nhà. Đến trưa ngày 29/5/2024, Phạm Hoàng T đến nhà ông T3 lấy xe 94D1-549.20 tiếp tục đi tìm chổ cầm nhưng không được. Sau đó, T chạy xe đến tiệm sửa xe của Đồng Văn V1 yêu cầu Vàng tháo đồ món nhưng V1 không đồng ý nên Phạm Hoàng T gửi xe lại và đi về. Đối với Châu Khánh V, sau khi phát hiện mất xe Vy trình báo Công an xã T. Quá trình giải quyết tin báo Công an thị xã G mời Phạm Hoàng T làm việc, quá trình làm việc T thừa nhận toàn bộ hành vi chiếm đoạt xe của Châu Khánh V, Cơ quan điều tra đã thu hồi, giao trả lại xe cho Châu Khánh V.
Tại bản Kết luận định giá tài sản số 40/KL-HĐĐGTS ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá tải sản trong tố tụng hình sự thuộc Ủy ban nhân dân thị xã G kết luận giá trị tài sản Phạm Hoàng T chiếm đoạt của bị hại Châu Khánh V có giá trị thành tiền bằng 8.500.000 đồng.
Cáo trạng số 64/CT-VKS-HS ngày 18 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu truy tố bị cáo Phạm Hoàng T, về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai, tỉnh Bạc Liêu giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo Phạm Hoàng T và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T từ 06 tháng đến 09 tháng tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không khiếu nại hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Căn cứ vào lời khai bị cáo Phạm Hoàng T tại phiên tòa sơ thẩm cùng các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có căn cứ xác định: Khoảng 19 giờ ngày 28/5/2024, tại nhà ông Châu Thành H1 thuộc ấp A, xã T, thị xã G, tỉnh Bạc Liêu, bị cáo Phạm Hoàng T đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô hiệu Wave Alpha biển số 94D1-549.20 của bị hại Châu Khánh V. Qua định giá, tài sản bị cáo T chiếm đoạt của bị hại Khánh V có giá trị bằng 8.500.000 đồng. Tài sản đã thu hồi trả cho bị hại.
[3] Hành vi của bị cáo Phạm Hoàng T là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương, đủ yếu tố dấu hiệu cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Giá Rai đã truy tố. Do đó, cần phải được xử phạt nghiêm để răn đe, giáo dục bị cáo cũng như có tác dụng đấu tranh, phòng, chống tội phạm.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Phạm Hoàng T, phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Hoàng T 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày bị cáo bị bắt đi chấp hành án.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Phạm Hoàng T phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thời hạn kháng cáo tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Quang Khang |
Bản án số 66/2024/HSST ngày 18/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 66/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ GIÁ RAI TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bị cáo T có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác
