Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TAM ĐƯỜNG

TỈNH LAI CHÂU

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 16 tháng 10 năm 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Triệu Trung Tá.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vàng Văn Kẻo, bà Nguyễn Thị Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Thủy - Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Tam Đường tỉnh Lai Châu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Hữu - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 65/2024/TLST - HS ngày 05 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 66/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Trần Văn Đ, tên gọi khác: Không có tên gọi khác, sinh ngày 20/8/1985; Nơi sinh: Huyện T, tỉnh Lai Châu; Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở: Bản L, xã T, huyện T, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Giáy; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Con ông Trần Văn H, sinh năm 1959 và bà Lèng Thị C, sinh năm 1960; Bị cáo có vợ là Lý Thị T, sinh năm 1990 và 03 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T, tỉnh Lai Châu từ ngày 02/6/2024 đến nay có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ, ngày 02/6/2024 bị cáo Trần Văn Đ một mình đi bộ sang nhà Vùi A, sinh năm 1990 trú tại bản L, xã T để mua Heroine sử dụng cho bản thân. Tại buồng phòng ngủ của Vùi A, Đ mua được của L 03 gói Heroine, mỗi gói đều được gói bằng nilon màu xanh đốt dính một đầu với giá 190.000 đồng. Mua được H1, Trần Văn Đ cầm trong lòng bàn tay trái rồi đi bộ theo đường nội bản về nhà còn L đi đâu, làm gì Đ không biết. Hồi 12 giờ 40 phút, ngày 02/6/2024 khi Trần Văn Đ đang đi bộ về đến gần nhà thì phát hiện có lực lượng Công an, do sợ bị phát hiện đang tàng trữ ma túy nên Đ đã ném 03 gói Heroine từ trong tay trái ra đống đá cạnh tường rào của nhà ông Trần Văn H, sinh năm 1959 trú tại bản Lở Thàng 1, xã T (nhà bố đẻ của Đ) nhằm phi tang vật chứng nhưng đã bị Công an xã T phát hiện, lập biên bản bắt người phạm tội quả tang thu giữ 03 gói Heroine mỗi gói đều được gói bằng nilon màu xanh đốt dính một đầu.

Kết luận giám định số 626/KLGĐ ngày 02/6/2024 và bản Kết luận giám định số 637/KL -KTHS ngày 05/6/2024 của Phòng K - Công an tỉnh L đã khẳng đinh: 03 gói chất bột, màu trắng thu giữ của Trần Văn Đ có tổng khối lượng 0,1887 gam; là chất ma túy, loại: Heroine.

Bản cáo trạng số: 55/CT-VKSTĐ ngày 04 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo Trần Văn Đ về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường, tỉnh Lai Châu đã truy tố, không oan, không sai.

Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 16 tháng đến 20 tháng tù.

Về vật chứng: Đối với 0,1887 gam Heroine đã lấy toàn bộ đi giám định nên không đề cập xử lý. Đề nghị tịch thu, tiêu hủy vỏ phong bì niêm phong ban đầu, 03 mảnh nilon màu xanh dùng để gói Heroine.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là lao động tự do thu nhập thấp, là người nghiện ma túy sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế xã hội nên khó có khả năng thi hành hình phạt tiền nên đề nghị không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Đề nghị hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 miễn nộp án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Bị cáo không tranh luận đối đáp với đại diện Viện kiểm sát, ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của mình theo quy định tại Điều 42 của Bộ luật Tố tụng hình sự; các tài liệu, chứng cứ được thu thập theo đúng trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định. Nên các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử là hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là hoàn toàn phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do vậy có đủ cơ sở xác định bị cáo đã thực hiện hành vi phạm tội như sau: Vào hồi 12 giờ 15 phút, ngày 02/6/2024 tại khu vực bản Lở Thàng 1, xã T, huyện T khi Trần Văn Đ đang có hành vi cất giữ 03 gói Heroine có tổng khối lượng 0,1887 gam ở tay trái và ném phi tang thì bị bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng. Mục đích bị cáo Đ cất giấu Heroine là để sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, phải chịu trách nhiệm hình sự do mình đã gây ra. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Đường truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản như trên là có căn cứ.

Bị cáo không có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cải về hành vi của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế, xã hội nên nhận thức pháp luật hạn chế đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất trật tự trị an, đặc biệt tại địa phương bị cáo sinh sống, làm việc. Quan điểm đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được chấp nhận.

[3] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội, nên khó có khả năng thi hành hình phạt tiền nên không áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

[4] Về xử lý vật chứng: Đối với 0,1887 gam Heroine đã lấy toàn bộ để giám định không hoàn lại, nên Hội đồng xét xử không xem xét. Đối với 03 mảnh nilon màu xanh dùng để gói Heroine và vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy toàn bộ.

[5] Về án phí: Bị cáo sinh sống ở vùng đặc biệt khó khăn về kinh tế - xã hội nên miễn án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[6] Đối với đối tượng Vùi A Lý: Bị cáo Đ khai nguồn gốc số Heroine mà bị cáo có là mua của Vùi A L, ngoài lời khai của Đ ra không có chứng cứ nào khác chứng minh nên chưa có đủ cơ sở để xử lý đối với đối tượng Vùi A L.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c Khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136; Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

  1. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Đ phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
  2. Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/6/2024.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 03 mảnh nilon màu xanh và vỏ phong bì dùng niêm phong vật chứng ban đầu
  4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Tam Đường;
  • - CQCSĐTCA huyện Tam Đường;
  • - CQTHAHS CA H. Tam Đường;
  • - CCTHADS huyện Tam Đường;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Triệu Trung Tá

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 16/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM ĐƯỜNG, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger