|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI TỈNH LÀO CAI |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST Ngày 27/9/2024 |
V/v “Kiện ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hà Thị Anh;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Vũ Thị Hòa;
2. Ông Bùi Xuân Hưởng;
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Phùng Mạnh Cường – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai tham gia phiên tòa:
Bà Nguyễn Thị Ngọc Anh – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 139/2024/TLST - HNGĐ ngày 08/7/2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QÐST-HNGĐ ngày 12/9/2024 giữa :
Nguyên đơn: Chị Dương Thị Thu T- sinh năm 1988
Địa chỉ: Tổ C, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Có mặt.
Bị đơn: Anh Hoàng Văn T1 - Sinh năm 1982
Địa chỉ: Tổ C, phường B, thành phố L, tỉnh Lào Cai. Vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai, không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Dương Thị Thu T trình bày: Chị và anh Hoàng Văn T1 kết hôn ngày 21/12/2009 tại UBND thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn thời gian đầu cuộc sống vợ chồng hạnh phúc có hạnh phúc đến năm 2012 thì vợ chồng bắt đồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm, không tin tưởng, không tôn trọng nhau, từ đó vợ chồng thường xảy ra đánh cãi chửi nhau, tình cảm vợ chồng dần xa cách. Vợ chồng anh chị sống ly thân từ năm 2012 đến nay không quan tâm gì đến nhau. Đến nay chị T xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Hoàng Văn T1.
Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh chị có một con chung là: Hoàng Dương Gia B sinh ngày 30/11/2009. Khi ly hôn chị T có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc cháu Hoàng Dương Gia B đến khi cháu đủ 18 tuổi. Không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn anh Hoàng Văn T1: Sau khi Toà án thụ lý vụ án, Toà án đã nhiều lần triệu tập anh Hoàng Văn T1 và tiến hành tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng của Toà án cho anh T1 bằng hình thức niêm yết công khai nhưng anh T1 không có văn bản trả lời và cũng không đến Toà án làm bản tự khai, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, vì vậy Toà án đã đưa vụ án ra xét xử.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của thẩm phán, hội đồng xét xử, những người tiến hành tố tụng đảm bảo đúng trình tự luật định, không vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đảm bảo. Nguyên đơn chấp hành đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng Dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng, đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Đề nghị Tòa án áp dụng khoản 1 điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; khoản 4 điều 147; Điều 227; Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Dương Thị Thu T, xử cho chị Dương Thị Thu T được ly hôn với anh Hoàng Văn T1.
Về con chung: Giao cháu Hoàng Dương Gia B cho chị Dương Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Tuyên án phí và quyền kháng cáo cho nguyên đơn, bị đơn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]Về tố tụng: Nguyên đơn nộp đầy đủ các chứng cứ theo quy định. Tranh chấp cần giải quyết trong vụ án là tranh chấp hôn nhân gia đình. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo khoản 1 Điều 28; Khoản 1 điều 35; Khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Bị đơn anh Hoàng Văn T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt, không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 điều 227; khoản 3 điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Hoàng Văn T1.
[2]Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy chị Dương Thị Thu T và anh Hoàng Văn T1 kết hôn với nhau ngày 21/12/2009 tại UBND thị trấn nông trường P, huyện B, tỉnh Lào Cai trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân giữa anh chị là hợp pháp. Sau khi kết hôn cuộc sống vợ chồng anh chị sống hạnh phúc đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do tính tình vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm sống, vợ chồng không có tiếng nói chung, không tin tưởng nhau, vợ chồng thường xảy ra đánh cãi chửi nhau, từ đó tình cảm vợ chồng dần xa cách. Vợ chồng anh chị đã sống ly thân từ năm 2012 đến nay không ai quan tâm đến ai về tình cảm cũng như kinh tế. Chị Dương Thị Thu T đã cung cấp xác nhận của chính quyền địa phương về mâu thuẫn vợ chồng là đúng sự thật. Xét thấy cuộc sống vợ chồng giữa anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ khoản 1 điều 51; khoản 1 điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Thu T là phù hợp.
[3] Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có một con chung là cháu Hoàng Dương Gia B sinh ngày 30/11/2009. Chị Dương Thị Thu T làm nghề tự do (bán hàng online) mức thu nhập 10.000.000 đồng/tháng, chị T không yêu cầu anh T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung. Xét thấy chị Dương Thị Thu T có khả năng, điều kiện để nuôi con chung. Trong thời gian anh chị xảy ra mâu thuẫn chị T là người trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc con chung. Cháu Hoàng Dương Gia B có nguyện vọng ở với mẹ. Do vậy cần giao cháu Hoàng Dương Gia B cho chị Dương Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng đến khi cháu đủ 18 tuổi, anh Hoàng Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp.
[4] Về tài sản chung, công nợ chung: Nguyên đơn không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[5] Về án phí: Chị Dương Thị Thu T phải chịu tiền án phí ly hôn theo khoản 4 điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình; Khoản 4 Điều 147; Điểm b Khoản 2 Điều 227; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Dương Thị Thu T và anh Hoàng Văn T1, quan hệ hôn nhân chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
2. Về con chung: Giao cháu Hoàng Dương Gia B sinh ngày 30/11/2009 cho chị Dương Thị Thu T trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc đến khi cháu đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Hoàng Văn T1 được quyền đi lại thăm nom, chăm sóc các con chung không ai được quyền cản trở.
3. Về án phí: Chị Dương Thị Thu T phải chịu 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000VNĐ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000620 ngày 08/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Lào Cai. Chị Dương Thị Thu T đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
|
Nơi nhận:
|
TM - HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Hà Thị Anh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Vũ Thị Hòa |
Bùi Xuân Hưởng |
Hà Thị Anh |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 27/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI, TỈNH LÀO CAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chị T yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh T
