|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH TỈNH BÌNH PHƯỚC Số: 66/2024/DS -ST Ngày: 27/9/2024 Về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Quốc Mạnh
- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Khoản
- Ông Lâm Cường Thịnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Hồng Huế - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Phước Thành - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 9 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm lý số: 169/2024/TLST-DS ngày 01/8/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2024/QĐXX-ST ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N (Ngân hàng A) - Địa chỉ: Số B, đường L, quận B, Thành phố Hà Nội; Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn V - Chức vụ: Tổng Giám đốc; Người đại diện theo uỷ quyền: Ông Trần Phi H - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng N, chi nhánh thị xã C (Có mặt)
Bị đơn: Bà Lâm Thị Hồng K, sinh năm 1978; Trú tại: Tổ H, khu phố A, phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà nguyên đơn Ngân hàng N (Ngân hàng A) trình bày:
Ngày 14/07/2023 Ngân hàng A, Chi nhánh thị xã C và bà Lâm Thị Hồng K ký kết hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532, theo đó các bên thoả thuận các nội dung sau: Số tiền vay: 3.000.000.000 đồng; Lãi suất vay trong hạn tại thời điểm ký hợp đồng: 11%/năm (điều chỉnh định kỳ 3tháng/lần); lãi suất quá hạn: 150% lãi suất vay trong hạn; Hạn trả gốc ngày: 14/07/2024; Lãi suất chậm trả lãi: 10%/năm. Ngoài ra, hợp đồng tín dụng còn thoả thuận các điều khoản về phương thức tính lãi; các loại phí khác; biện pháp bảo đảm; giải ngân vốn; đồng tiền cho vay, đồng tiền trả nợ, cơ cấu nợ, chuyển nợ quá hạn, thứ tự thu nợ; tạm ngừng cho vay, chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn; quyền và nghĩa vụ của các bên và các cam kết thoả thuận khác.
Để đảm bảo nợ vay khi vay số tiền tại hợp đồng tín dụng nêu trên bà K có thế chấp cho Ngân hàng A tài sản làm đảm bảo tại Hợp đồng thế chấp số: 5610-LCL-202301725 ngày 14/7/2023 gồm:
- Thửa đất số 69 (lô 03), tờ bản đồ 37 (cụm N), diện tích 208,5 m², tọa lạc tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 194188, số vào sổ cấp GCN: CH 02524, do UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/08/2011, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K theo hồ sơ số: 25432.CN.153270 ngày 27/3/2020;
- Thửa đất số 06, tờ bản đồ 41; diện tích 168 m², tọa lạc tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 045773, số vào sổ cấp GCN: CS 04092, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/06/2018, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K theo hồ sơ số: 25432.CN.153271 ngày 27/3/2020;
Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên bà K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng A. Mặc dù, phía Ngân hàng A đã nhiều lần liên hệ làm việc, tạo điều kiện cho bà K trả nợ nhưng không có kết quả. Do vậy, Ngân hàng A khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết như sau:
- Yêu cầu Tòa án buộc bà K thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A tổng số tiền tạm tính đến ngày 27/9/2024 là 3.309.790.005 đồng. Trong đó, nợ gốc: 3.000.000.000 đồng và nợ lãi là 309.790.005 đồng.
- Yêu cầu Tòa án buộc bà K tiếp tục trả lãi phát sinh sau ngày 27/9/2024 cho đến khi bà K hoàn thành nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng A theo mức lãi suất quá hạn quy định tại hợp đồng tín dụng số: 5610-LAV-202301532 ngày 14/7/2023.
- Trường hợp bà K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi phát sinh sau khi bản án/quyết định của Tòa án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng A được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự kê biên, xử lý tài sản thế chấp của bà K tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 5610-LCL-202301725 ngày 14/7/2023 là thửa đất số 69 (lô 03), tờ bản đồ 37 (cụm N), diện tích 208,5 m², tọa lạc tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 194188, số vào sổ cấp GCN: CH 02524, do UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/08/2011, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K theo hồ sơ số: 25432.CN.153270 ngày 27/3/2020 và thửa đất số 06, tờ bản đồ 41; diện tích 168 m², tọa lạc tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 045773, số vào sổ cấp GCN: CS 04092, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/06/2018, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K theo hồ sơ số: 25432.CN.153271 ngày 27/3/2020 để thu hồi nợ: Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì Ngân hàng N có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý bất kỳ tài sản nào thuộc quyền sở hữu, sử dụng của bà K để thu hồi hết nợ.
Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Lâm Thị Hồng K trình bày:
Trong quá trình giải quyết vụ án Toà án đã nhiều lần triệu tập bà K đến Toà án làm việc, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, hoà giải và tham gia phiên toà nhưng bà K đều vắng mặt, không có lý do nên Toà án không ghi nhận được ý kiến hay yêu cầu gì của bà K.
Tại phiên toà:
- Người đại diện hợp pháp của Ngân hàng A ông Trần Phi H có mặt ; Ngân hàng A vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của đối với bà K và cung cấp bảng tính nợ gốc và nợ lãi tại hợp đồng tín dụng nêu trên tạm tính đến ngày Toà án xét xử sơ thẩm đối với bà K;
- Bị đơn bà K vắng mặt không có lý do.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- + Việc chấp hành theo quy định pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử:
- Quá trình giải quyết vụ án, từ khi thụ lý cho đến nay nhận thấy Thẩm phán chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc chấp hành theo quy định pháp luật của các đương sự: Nguyên đơn Ngân hàng A đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn bà K không thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về việc chấp hành theo quy định pháp luật của Hội đồng xét xử: Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm.
- + Về quan điểm giải quyết vụ án: Qua nghiên cứu hồ sơ vụ án nhận thấy bị đơn bà K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Ngân hàng A quy định tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 nên các yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào các hợp đồng tín dụng nêu trên và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 chấp nhận các yêu cầu của Ngân hàng A, buộc bà K phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng A như đã cam kết. Ngoài ra, buộc K phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
- Về thủ tục tố tụng:
- Về quan hệ pháp luật: Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A yêu cầu bị đơn bà K có nghĩa vụ trả các khoản nợ gốc và lãi tại hợp đồng tín dụng ký kết giữa hai bên. Do vậy, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
- Về thẩm quyền giải quyết: Do bị đơn bà K có nơi cư trú tại phường M, thị xã C, tỉnh Bình Phước. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước.
- Về sự vắng mặt của bị đơn bà K: Toà đã triệu tập hợp lệ bị đơn bà K tham gia phiên toà lần thứ hai nhưng bà K vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.
- Về nội dung tranh chấp:
- Về hợp đồng tín dụng: Ngày 14/07/2023 Ngân hàng A có thoả thuận cho bà K vay số tiền 3.000.000.000 đồng tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532, việc Ngân hàng A và bà K thoả thuận ký kết hợp đồng tín dụng nêu trên là tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Theo nội dung hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 ngày 14/7/2023 thì thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 11%/năm, kỳ hạn trả là 03 tháng/lần, Ngân hàng A đã giải ngân toàn bộ số tiền 3.000.000.000 đồng cho bà K vào ngày 14/7/2023 và thời hạn trả nợ là đến hết ngày 14/7/2024. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên bà K chỉ trả được cho Ngân hàng số tiền lãi tính từ ngày 17/4/2023 đến ngày 16/10/2023 với tổng số tiền là 85.740.005 đồng, chưa trả nợ gốc. Từ ngày 17/10/2023 bà K không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên bà K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, căn cứ hợp đồng tín dụng trên và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng A có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà K thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi quy định tại hợp đồng tín dụng nêu trên.
- Về yêu cầu trả nợ gốc: Quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên bà K chưa trả được cho Ngân hàng A số tiền nợ gốc nào trong tổng số tiền nợ gốc 3.000.000.000 đồng. Cho đến nay đã quá thời hạn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ quy định trong hợp đồng nhưng bà K không thực hiện nghĩa vụ trả nợ nên Ngân hàng A yêu cầu Toà án buộc bà K trả cho Ngân hàng A số tiền 3.000.000.000 đồng tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 ngày 14/7/2023 là có căn cứ, được Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về yêu cầu trả nợ lãi: Theo thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 ngày 14/7/2023, các bên thỏa thuận lãi suất vay là 11%/năm, phương thức trả lãi là trả định kỳ ba tháng/lần tính từ ngày giải ngân 14/7/2023, quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên bà K đã trả được cho Ngân hàng A số tiền lãi từ ngày 17/4/2023 đến ngày 16/10/2023 với tổng số tiền là 85.740.005 đồng đồng. Sau đó bà K không tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng A, mặc dù phía Ngân hàng đã đôn đốc, nhắc nhở và tạo điều kiện cho bà K trả lãi nhưng bà K vẫn không thực hiện. Điều này, chứng tỏ bà K đã vi phạm cam kết trả lãi quy định tại hợp đồng tín dụng nêu trên nên yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng A là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận, vì vậy, ngoài việc phải trả tiền nợ gốc như nhận định tại mục [2.1.1] thì bà K còn phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ lãi phát sinh, bao gồm tiền lãi trong hạn, tiền nợ lãi quá hạn gốc và tiền lãi phạt quá hạn lãi như quy định tại hợp đồng tín dụng và tính đến ngày 27/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) bà K còn nợ lãi Ngân hàng A với tổng số tiền là 309.790.005 đồng. Trong đó, nợ lãi trong hạn tính từ ngày 16/10/2023 – 26/9/2024 là 275.317.808 đồng; nợ lãi quá hạn gốc từ ngày 16/7/2024 – 27/9/2024 là 28.890.411 đồng và lãi phạt quá hạn lãi tính từ ngày 16/7/2024 – 27/9/2024 là 5.581.786 đồng.
Như vậy, số tiền nợ gốc và lãi bà K có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng A tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 ngày 14/7/2023 như nhận định tại mục [2.1.1] và mục [2.1.2] tính đến ngày 27/9/2024 (ngày xét xử sơ thẩm) là 3.309.790.005 đồng. Trong đó, nợ gốc là 3.000.000.000 đồng và nợ lãi là 309.790.005 đồng).
Bà K có nghĩa vụ phải tiếp tục trả các khoản lãi cho Ngân hàng A trên số nợ gốc (3.000.000.000 đồng) theo mức lãi quá hạn quy định tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 ngày 14/7/2023 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi bà K trả hết nợ cho Ngân hàng A.
- Về hợp đồng thế chấp: Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số tiền nợ gốc và lãi của bà K tại hợp đồng tín dụng nêu trên thì giữa Ngân hàng A và bà K thoả thuận ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 5610-LCL-202301725 ngày 14/7/2023 thế chấp tài sản là thửa đất số 69 (lô 03), tờ bản đồ 37 (cụm N), diện tích 208,5 m², tọa lạc tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hồ sơ số: 25432.CN.153270 ngày 27/3/2020 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K và thửa đất số 06, tờ bản đồ 41; diện tích 168 m², tọa lạc tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo hồ sơ số: 25432.CN.153271 ngày 27/3/2020 của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K. Hợp đồng thế chấp nêu trên được Ngân hàng A và bà K tự nguyện thoả thuận ký kết, được công chứng và đăng ký thế chấp, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Do vậy, Ngân hàng A yêu cầu trong trường hợp bà K không thực hiện hoặc thực hiện không đẩy đủ nghĩa vụ trả nợ số tiền nợ như nhận định tại mục [2.1] thì Ngân hàng A được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý (kê biên, phát mãi) tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ là có cơ sở được Hội đồng xét xử chấp nhận. Mặt khác, do bà K phải thực hiện nghĩa vụ trả toàn bộ nợ gốc và lãi cho Ngân hàng A như nhận định tại mục [2.1] cho đến khi trả hết nợ, vì vậy trường hợp số tiền xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ cho Ngân hàng A thì bà K vẫn phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ đối với số nợ còn lại cho đến khi trả hết nợ cho Ngân hàng A và việc xử lý tài sản khác ngoài các tài sản thế chấp nêu trên để thu hồi nợ được thực hiện theo quy định của Luật thi hành án dân sự.
- Về hợp đồng tín dụng: Ngày 14/07/2023 Ngân hàng A có thoả thuận cho bà K vay số tiền 3.000.000.000 đồng tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532, việc Ngân hàng A và bà K thoả thuận ký kết hợp đồng tín dụng nêu trên là tự nguyện, nội dung và hình thức của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên có hiệu lực thi hành đối với các bên. Theo nội dung hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 ngày 14/7/2023 thì thời hạn vay là 12 tháng, lãi suất 11%/năm, kỳ hạn trả là 03 tháng/lần, Ngân hàng A đã giải ngân toàn bộ số tiền 3.000.000.000 đồng cho bà K vào ngày 14/7/2023 và thời hạn trả nợ là đến hết ngày 14/7/2024. Tuy nhiên, quá trình thực hiện hợp đồng nêu trên bà K chỉ trả được cho Ngân hàng số tiền lãi tính từ ngày 17/4/2023 đến ngày 16/10/2023 với tổng số tiền là 85.740.005 đồng, chưa trả nợ gốc. Từ ngày 17/10/2023 bà K không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi cho Ngân hàng nên bà K đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Do vậy, căn cứ hợp đồng tín dụng trên và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017 thì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình, Ngân hàng A có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án buộc bà K thực hiện nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi quy định tại hợp đồng tín dụng nêu trên.
- Về ý kiến của đại diện Viện kiểm sát: Ý kiến phát biểu về quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Chơn Thành tại phiên toà phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Do các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng A được chấp nhận nên Ngân hàng A không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng A số tiền 48.273.500 đồng nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004370 ngày 01/8/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Bị đơn bà K phải chịu án phí trên số tiền bà K phải trả cho Ngân hàng A đến ngày xét xử vụ án với số tiền là 3.309.790.005 đồng, cụ thể: 72.000.000 đồng + (2% x 1.309.790.005 đồng) = 98. 195.800 đồng.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 144; 147; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Căn cứ Điều 280; 317 và Điều 500 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N.
- Về nghĩa vụ trả nợ: Buộc bà Lâm Thị Hồng K có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng N số tiền 3.309.790.005 đồng (Ba tỷ ba trăm lẻ chín triệu bảy trăm chín mươi ngàn không trăm lẻ năm đồng). Trong đó, nợ gốc là 3.000.000.000 đồng và nợ lãi là 309.790.005 đồng.
Bà Lâm Thị Hồng K có nghĩa vụ phải tiếp tục trả các khoản lãi cho Ngân hàng N trên số nợ gốc 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) theo mức lãi quá hạn quy định tại hợp đồng tín dụng số: 5610LAV202301532 ngày 14/7/2023 kể từ ngày 28/9/2024 cho đến khi bà K trả hết nợ cho Ngân hàng N.
- Về xử lý tài sản thế chấp: Trường hợp, bà Lâm Thị Hồng K không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ trả nợ nêu trên sau khi Bản án này của Toà án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng N có quyền tự mình hoặc yêu cầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xử lý (phát mãi) tài sản thế chấp là thửa đất số 69 (lô 03), tờ bản đồ 37 (cụm N), diện tích 208,5 m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BE 194188, số vào số cấp GCN: CH 02524, do UBND huyện C (nay là thị xã C), tỉnh Bình Phước cấp ngày 31/08/2011, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K theo hồ sơ số: 25432.CN.153270 ngày 27/3/2020 và thửa đất số 06, tờ bản đồ 41; diện tích 168 m², Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CN 045773, số vào sổ cấp GCN: CS 04092, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh B cấp ngày 12/06/2018, đã được Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện C (nay là thị xã C) đăng ký biến động cho bà Lâm Thị Hồng K theo hồ sơ số: 25432.CN.153271 ngày 27/3/2020; hai thửa đất nêu trên đều tọa lạc tại: Khu phố T, thị trấn C, huyện C (nay là khu phố T, phường H, thị xã C), tỉnh Bình Phước tại hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số: 5610-LCL-202301725 ngày 14/7/2023 để thu hồi nợ.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Ngân hàng N không phải chịu án phí, hoàn trả cho Ngân hàng số tiền 48.273.500 đồng nộp tạm ứng án phí tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0004370 ngày 01/8/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự thị xã Chơn Thành, tỉnh Bình Phước. Bà Lâm Thị Hồng K phải chịu án phí với số tiền là 98.195.800 đồng (Chín mươi tám triệu một trăm chín mươi lăm ngàn tám trăm đồng).
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đương sự vắng mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Trần Quốc Mạnh |
Bản án số 66/2024/DS -ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 66/2024/DS -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CHƠN THÀNH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngân hàng A yêu cầu bà Lâm Thị Hồng K trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng các bên đã ký kết do bà K vi phạm nghĩa vụ trả nợ.
