|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH TỈNH BÌNH THUẬN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày: 26 – 9 – 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Bùi Ngọc Nghĩa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lưu Trọng Kim.
Ông Nguyễn Đức Binh.
Thư ký phiên toà: Ông Tô Văn Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Hải Lĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 63/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 72/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 9 năm 2024 và Quyết định thay đổi Hội thẩm số 22/2024/QĐ-TĐ ngày 24 tháng 9 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Lê Đức K (Tên thường gọi: Beo T), sinh năm 1991 tại Bình Thuận.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Tài xế; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Đức T1, sinh năm 1963 và bà Lê Thị Kim N, sinh năm 1966; Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 20/3/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thanh S (Tên thường gọi: Heo), sinh ngày 10/01/2000 tại Bình Thuận.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn B (Đã chết) và bà Nguyễn Thị Ánh T2, sinh năm 1969; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; chưa có vợ, con;
Tiền án: Không.
Nhân thân: Tại bản án số: 73/2023/HS –ST ngày 22/11/2023 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại Bản án số: 80/2018/HS-ST ngày 14/11/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Lagi xử phạt 9 tháng tù về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 do thực hiện tội phạm vào ngày 28/8/2016. Tại Bản án số: 96/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Lagi xử phạt 18 tháng tù về tội trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 do thực hiện tội phạm vào tháng 10/2016. Tổng hợp hình phạt chung của 2 bản án là 2 năm 3 tháng tù. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/04/2020.
Bị bắt tạm giam từ ngày 05/9/2023 trong vụ án khác. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
3. Nguyễn Huy T3 (Tên thường gọi: Năm dầu hôi), sinh năm 1992 tại Bình Thuận.
Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn E, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị B1, sinh năm 1962; Gia đình có 05 anh chị em, bị cáo là con thứ tư trong gia đình; chưa có vợ, con;
Tiền án: Không; Tiền sự: không.
Bị bắt tạm giam từ ngày 21/8/2024. Hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Bình Thuận. Có mặt tại phiên tòa.
- Những người làm chứng:
- + Nguyễn Đạt H, sinh năm 1990 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Tổ E, thôn D, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Huỳnh Kim C, sinh năm 1997 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Tổ E, khu phố I, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Bùi Thị Thủy T4, sinh năm 1996 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Tổ E, thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
- + Trần Ngọc T5, sinh năm 1988 (Vắng mặt).
- Nơi cư trú: Thôn E, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
2
Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 14/03/2023, Lê Đức K điều khiển xe môtô hiệu Vario, biển số 86B8-467.47 đi đến nhà của Nguyễn Đạt H tại thôn D, xã Đ, Đ để chơi. Tại nhà Nguyễn Đạt H lúc này có Nguyễn Đạt H, Nguyễn Thanh S, Huỳnh Kim C, Nguyễn Huy T3 và Bùi Thị Thủy T4. Lê Đức K dựng xe rồi đi vào trong phòng chơi đánh bài với Nguyễn Huy T3 và Huỳnh Kim C. Theo lời khai của Lê Đức K: Một lúc sau Lê Đức K đi ra ngoài gặp Nguyễn Đạt H, H nói với K: “Beo, mày gọi cho thằng H1 có con chim đổi miếng đồ được không?”. Lê Đức K hiểu ý Nguyễn Đạt H là gọi điện thoại cho Phan Nhật H1, sinh năm 1998 trú tại nhà số D, đường H, khu phố G, thị trấn V, huyện Đ, tỉnh Bình Thuận hỏi H1 có đổi con chim để lấy ma túy không. Nói xong Nguyễn Đạt H chỉ tay về phía chiếc lồng chim bên trong có một con chim Chào Mào đang treo trên cây bên hông căn phòng. Nghe Nguyễn Đạt H nói vậy, Lê Đức K mượn điện thoại của Nguyễn Đạt H gọi điện thoại cho H1 nói muốn đổi con chim Chào mào và cái lồng chim lấy ma túy, H1 nói lại với Lê Đức K là cứ mang xuống nhà H1 để H1 xem. Lê Đức K đến chỗ Nguyễn Thanh S gọi S dậy chở Lê Đức K đi V, Nguyễn Thanh S đồng ý, rồi ngồi dậy đến dắt chiếc xe hiệu Vario của Lê Đức K ra, Lê Đức K đến lấy cái lồng chim ngồi lên xe, Nguyễn Thanh S chở đi. Trên đường đi, Nguyễn Thanh S hỏi K đi đâu; Lê Đức K nói S cầm lồng chim và con chim Chào mào đến nhà H1 ở Võ Xu đổi ma túy về sử dụng. Nguyễn Thanh S nghe K nói thì không nói gì và tiếp tục chở Lê Đức K đi đến nhà H1. Khi đến nhà H1, Nguyễn Thanh S chạy xe thẳng vào mái vòm bên hông nhà gặp khoảng 3 - 4 người thanh niên lạ mặt, Lê Đức K và Nguyễn Thanh S không quen biết. Lúc này, Nguyễn Thanh S ngồi trên xe còn Lê Đức K xuống xe đi đến ngồi ở bàn ghế đá ở bên hông nhà H1 và đặt lồng chim trên bàn. Sau đó, một người thanh niên đi đến ngồi vào ghế đá xem con chim Chào mào và lồng chim, xem xong người thanh niên nói Lê Đức K ngồi đợi tí để người này vào nhà nói chuyện với H1 rồi người này đi vào trong nhà. Ít phút sau, người thanh niên đi ra đưa cho Lê Đức K 01 bịch ma túy, Lê Đức K cầm bịch ma túy và để lại lồng chim rồi lên xe ngồi để Nguyễn Thanh S chở về. Nguyễn Thanh S điều khiển xe chở Lê Đức K về lại nhà H. Lê Đức K xuống xe đi đến căn phòng thả bịch ma túy vào trong gian phòng mà Bùi Thị Thủy T4 đang nằm và nói “đồ đó đứa nào làm đi”, sau đó Lê Đức K đi đến ngồi xuống phụ sửa xe với Nguyễn Đạt H. Nguyễn Thanh S đến nằm trên võng bên hông căn phòng. Nguyễn Huy T3 nghe Lê Đức K nói vậy ở bên gian phòng này chồm người qua ô cửa thông với gian phòng của Bùi Thị Thủy T4 lấy bịch ma túy và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy có sẵn trong căn phòng; sau đó, Nguyễn Huy T3 đổ ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy rồi dùng bật lửa hơ nóng ma túy lên. Khi đã thực hiện xong Nguyễn Huy T3 sử dụng ma túy trước rồi nói những người có mặt tại nhà H tập trung lại để sử dụng ma túy. Sau đó, Lê Đức K, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Đạt H, Nguyễn Huy T3, Bùi Thị Thủy T4, Huỳnh Kim C tập trung đến căn phòng cùng nhau sử dụng ma túy. Trong lúc cả nhóm đang sử dụng ma túy có Dương Lưu
3
H2, sinh năm 1996, trú tại thôn A, xã Đ, huyện Đ và Trần Ngọc T5, sinh năm 1988, trú tại thôn E, xã Đ, huyện Đ đến nhà H chơi và cùng sử dụng ma túy một lúc rồi ra về. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, lúc này cả nhóm đã sử dụng ma túy xong thì Cơ quan công an vào kiểm ra, phát hiện bộ dụng cụ sử dụng ma túy nên đưa tất cả về trụ sở làm việc gồm: K, S, H, T3, T4, C và T5.
Tại Kết luận giám định số 531/KL-KTHS ngày 10/05/2023 của Phòng K1 - Công an tỉnh B kết luận: Chất màu nâu bên trong ống thủy tinh gửi giám định có khối lượng là 0,0726 gam; là Methamphetamine.
Tại Cơ quan điều tra: Lê Đức K, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Huy T3 thừa nhận hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.
Với những tình tiết nêu trên tại Cáo trạng số 61/CT-VKSÐL-HS ngày 29/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Linh đã truy tố bị cáo Lê Đức K, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Huy T3 về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Bị cáo Lê Đức K, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Huy T3 thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng đã truy tố. Các bị cáo không có ý kiến và nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ cũng nội dung bản kết luận giám định số 531/KL-KTHS ngày 10/05/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B.
Đại diện VKSND huyện Đức Linh giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm như đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố bị cáo Lê Đức K, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Huy T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Về hình phạt:
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộluật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Lê Đức K mức án từ 8 đến 9 năm tù.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộluật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S mức án từ 8 đến 9 năm tù.
+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộluật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T3 mức án từ 7 đến 8 năm tù.
Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị về xử lý vật chứng, án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
4
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo đã nhận ra lỗi lầm của mình và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa, những người làm chứng vắng mặt nhưng đã có lời khai làm rõ trong hồ sơ vụ án, không ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt những người làm chứng.
[2] Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa cơ bản phù hợp với biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm; biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ; biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản xác định hiện trường; kết luận giám định; biên bản thực nghiệm điều tra; lời khai của người làm chứng và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở xác định:
[2.1] Về hành vi phạm tội: Vào khoảng 07 giờ sáng ngày 14/03/2023, tại nhà của Nguyễn Đạt H thuộc thôn D, xã Đ, huyện Đ; Lê Đức K cầm con chim Chào M và cái lồng chim của Nguyễn Đạt H cùng Nguyễn Thanh S đi mua ma túy để sử dụng. Sau khi Lê Đức K, Nguyễn Thanh S mua ma túy về đưa cho Nguyễn Huy T3 đổ ma túy vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy nấu rồi cùng với Bùi Thị Thủy T4, Trần Ngọc T5, Huỳnh Kim C, Dương Lưu H2 sử dụng.
[2.2] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm hại đến chính sách độc quyền quản lý về các chất ma túy của Nhà nước. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi của bản thân. Bản thân bị cáo hiểu rất rõ tác hại của chất ma túy, tuy nhiên, do muốn thỏa mãn nhu cầu của cá nhân mà bị cáo vẫn bất chấp quy định cấm của pháp luật, cố ý phạm tội nên cần có mức hình phạt thật nghiêm để răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm nói chung.
Hành vi của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội đối với 02 người trở lên” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Do đó, Các trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người và đúng tội.
[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
- Về tình tiết tăng nặng: Tội phạm mà bị cáo Nguyễn Thanh S thực hiện bị xét xử tại Bản án số 80/2018/HS-ST ngày 14/11/2018 và Bản án số: 96/2018/HS-ST ngày 30/11/2018 là tội ít nghiêm trọng, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên không được xem là án tích. Do đó, bị cáo S không phải bị áp dụng
5
tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về nhân thân: Bị cáo K, T3 có nhân thân tốt. Bị cáo S có nhân thân xấu.
[2.4] Xét vai trò các bị cáo trong vụ án: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn. Bị cáo K là người khởi xướng và trực tiếp mua ma tuý về sử dụng nên vai trò là cao nhất. Bị cáo S là người chở bị cáo K đi mua ma tuý, tiếp nhận ý chí mua ma tuý từ bị cáo K nên vai trò là thứ hai. Tuy nhiên, bị cáo S có nhân thân xấu nên mức án hai bị cáo là ngang nhau. Bị cáo T3 là người đổ ma tuý vào bộ dụng cụ sử dụng ma túy nấu rồi sử dụng nên vai trò là thấp nhất.
[2.5] Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như nhân thân của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt nghiêm, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích và phòng ngừa chung cho xã hội.
[2.6] Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo không có công việc ổn định, không có tài sản nên không xem xét phạt tiền.
[3] Về xử lý vật chứng:
- 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu được thổi phồng cùng 0,0522 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 531, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B là vật cấm lưu hành, cần tịch thu tiêu hủy.
- 01 bình nhựa có nắp bằng nhựa màu đỏ được nối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng là công cụ phạm tội, cần tịch thu tiêu hủy.
[4] Về nguồn gốc số ma túy K và S khai mua của đối tượng tên Phan Nhật H1, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã tiến hành xác minh nhưng hiện không có mặt Phan Nhật H1 tại địa phương. Cơ quan cảnh sát điều tra tiếp tục xác minh và xử lý sau là phù hợp.
[5] Đối với Nguyễn Đạt H, hiện không có mặt tại địa phương, Cơ quan cảnh sát điều tra chưa tiến hành được các hoạt động điều tra cần thiết để thu thập chứng cứ làm cơ sở xử lý nên tách hành vi của Nguyễn Đạt H ra xử lý riêng là phù hợp.
[6] Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Bùi Thị Thủy T4, Trần Ngọc T5, Huỳnh Kim C, Dương Lưu H2, cơ quan Cảnh sát điều tra không xử lý hình sự mà xử lý bằng biện pháp khác là phù hợp.
[7] Về tổng hợp hình phạt: Tại bản án số 73/2023/HS-ST ngày 22/11/2023, Tòa án nhân dân huyện Đức Linh xử phạt bị cáo S mức án 1 năm tù, thời hạn tù tính
6
từ ngày 05/9/2023, án đã có hiệu lực pháp luật. Cho nên cần tổng hợp hình phạt với bản án này để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là phù hợp khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
[8] Xét các đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, áp dụng điều luật, hình phạt, xử lý vật chứng là có căn cứ nên cần chấp nhận.
[9] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra và truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[10] Về án phí: Bị cáo phạm tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Lê Đức K phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Đức K 8 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam 20/3/2024.
2. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh S phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh S 8 (Tám) năm 6 (Sáu) tháng tù.
Căn cứ khoản 1 Điều 56 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Tổng hợp với hình phạt 1 (Một) năm tù của bản án số 73/2023/HS-ST ngày 22/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Đức Linh. Buộc bị cáo Nguyễn Thanh S phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 9 (Chín) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày 05/9/2023.
3. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Huy T3 phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Huy T3 7 (Bảy) năm 6 (Sáu) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam 21/8/2024.
7
4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Tịch thu, tiêu hủy:
- 01 ống thủy tinh được uốn cong, một đầu được thổi phồng cùng 0,0522 gam mẫu M còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 531, có chữ ký của giám định viên Đoàn Thảo N1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 - Công an tỉnh B.
- 01 bình nhựa có nắp bằng nhựa màu đỏ được nối với 01 đoạn ống nhựa màu trắng.
(Các vật chứng trên đang lưu giữ tại chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Linh theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 24/9/2024)
5. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc Lê Đức K, Nguyễn Thanh S, Nguyễn Huy T3 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (Ngày 26/9/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Nghĩa |
8
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC LINH, TỈNH BÌNH THUẬN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Đức K và đồng phạm "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý"
