|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HNGĐ-ST
Ngày 25 - 9 - 2024
V/v tranh chấp "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Biên.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Giáp Thị Hiền.
- Ông Nguyễn Văn Kiểm.
Thư ký phiên toà: Bà Đồng Khánh Ly, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên tham gia phiên toà: Bà Trần Lệ Toàn, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 189/2024/TLST-HNGĐ ngày 03 tháng 7 năm 2024, về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 199/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 8 năm 2024, quyết định hoãn phiên toà số: 156/2024/QĐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2024, giữa:
- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1981; nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, có mặt.
- Bị đơn: Bà Hà Thị Hằng N, sinh năm 1984; nơi cư trú: Thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 25/6/2024 và các lời khai tiếp theo tại Toà án ông Nguyễn Văn H trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Hà Thị Hằng N kết hôn ngày 06/12/2004, trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện thỏa thuận đi đến cuộc sống chung, vợ chồng cưới hỏi theo phong tục địa phương và đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, sau khi kết hôn vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm vợ chồng ban đầu hòa thuận, hạnh phúc.
Mâu thuẫn vợ chồng: Phát sinh do không hợp nhau, bất hòa quan điểm lối sống, kể từ năm 2013 khi tôi đi chấp hành án, bà N đã có quan hệ với người đàn ông khác, nên khi tôi ra tù thì mâu thuẫn vợ chồng ngày càng căng thẳng và trầm trọng, mặc dù đã được hai bên gia đình hoà giải động viên nhưng không thành, đến năm 2020 thì bà N đã bỏ nhà đi làm thuê không rõ địa chỉ, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Trong thời gian ly thân ông và các con có liên lạc với bà N nhưng bà N không nói đi làm thuê ở đâu, ông không biết địa chỉ nơi ở, cũng như công việc của bà N đang làm. Ông cùng các con đã liên lạc thông báo cho bà N có biết Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang đang giải quyết ly hôn, nhưng bà N không về giải quyết. Nay ông xác định tình cảm vợ chồng không còn, yêu cầu Toà án giải quyết cho ông và bà Hà Thị Hằng N được ly hôn.
Về con chung: Ông và bà N có 04 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 10/7/2005, Nguyễn Thị H1, sinh ngày 16/12/2007, Nguyễn Thị Y, sinh ngày 06/3/2009, Nguyễn Lan A, sinh ngày 17/01/2012. Hiện các cháu đang ở cùng ông, cháu T đã trên 18 tuổi ông không yêu cầu giải quyết về nuôi dưỡng. Vợ chồng ly hôn, ông đề nghị được nuôi 03 con chung là H1, Y và Lan A, ông không yêu cầu giải quyết về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung.
Ông làm công nhân tại Công ty D; địa chỉ: Phường K, thành phố B, thu nhập bình quân 10.000.000 đồng/tháng. Ông có thu nhập ổn định, có đủ điều kiện về nơi ở, cũng như thời gian, vật chất để lo cho con ăn học, đảm bảo nuôi con tốt về mọi mặt.
Về tài sản, công nợ chung: Vợ chồng không có tài sản và không có liên quan vay nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản và công nợ của vợ chồng.
Tại bản tự khai ngày 15/8/2024, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Y và Nguyễn Lan A đều trình bày: Các cháu là con của bố Nguyễn Văn H và mẹ Hà Thị Hằng N, các cháu vẫn ở cùng bố và đảm bảo về việc ăn học, trong trường hợp bố mẹ ly hôn các cháu đều có nguyện vọng được ở với bố.
Qua xác minh tại địa phương thôn L và Công an xã N đều xác định như sau: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 và bà Hà Thị Hằng N, sinh năm 1984 là công dân thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, hiện ông H vẫn sinh sống tại địa phương, bà N đang đi làm ăn xa không biết bà N hiện đang làm gì, ở đâu. Công an xã N xác định bà Hà Thị Hằng N có hộ khẩu thường trú tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, chủ hộ là Nguyễn Văn H, sinh năm 1981 và các con Nguyễn Thị T, sinh ngày 10/7/2005, Nguyễn Thị H1, sinh ngày 16/12/2007, Nguyễn Thị Y, sinh ngày 06/3/2009, Nguyễn Lan A, sinh ngày 17/01/2012. Theo kết quả tra cứu dữ liệu dân cư quốc gia do Công an xã N cung cấp thì bà Hà Thị Hằng N không đăng ký tạm trú tại địa chỉ nào.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt niêm yết các văn bản tố tụng cho bà Hà Thị Hằng N như: Thông báo thụ lý vụ án, thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa. Tại các buổi làm việc cũng như quá trình giải quyết vụ án bà N không đến Tòa án làm việc và không cung cấp lời khai thể hiện quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên toà ông Nguyễn Văn H vẫn giữ nguyên ý kiến đã trình bày và đề nghị Tòa án giải quyết cho ông và bà Hà Thị Hằng N được ly hôn. Ông đề nghị giữ nguyên việc nuôi con như hiện tại, về nghĩa vụ đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung không yêu cầu Tòa án giải quyết. Về tài sản và công nợ chung không đề nghị Tòa án giải quyết. Bà Hà Thị Hằng N vắng mặt tại phiên tòa.
Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Yên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án:
Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án đến trước khi mở phiên tòa Thẩm phán và Thư ký thực hiện đúng thủ tục tố tụng; tại phiên toà, Hội đồng xét xử tiến hành đúng trình tự, thủ tục của phiên toà sơ thẩm; nguyên đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71; bị đơn không chấp hành đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; khoản 3 Điều 144, khoản 1 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:
Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị Hằng N được ly hôn.
Về con chung: Giao ông Nguyễn Văn H trực tiếp nuôi 03 con chung là Nguyễn Thị H1, sinh ngày 16/12/2007; Nguyễn Thị Y, sinh ngày 06/3/2009 và Nguyễn Lan A, sinh ngày 17/01/2012. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Bà Hà Thị Hằng N được quyền thăm nom con sau ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom con của bà N.
Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp và công nợ: Không yêu cầu giải quyết.
Về án phí: Ông Nguyễn Văn H được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
Ngoài ra còn xử lý về quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1]. Về thủ tục tố tụng:
[1.1]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị đơn bà Hà Thị Hằng N có nơi cư trú tại thôn L, xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang, căn cứ vào khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang là đúng về thẩm quyền.
[1.2]. Về quan hệ pháp luật: Ông Nguyễn Văn H có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết về tranh chấp hôn nhân và gia đình với bà Hà Thị Hằng N, căn cứ vào khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự xác định quan hệ pháp luật là: "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
[1.3]. Về sự vắng mặt của bị đơn: Tòa án đã tiến hành giao giấy triệu tập phiên tòa và quyết định xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ cho bị đơn bà Hà Thị Hằng N, nhưng bà N vẫn vắng mặt tại phiên tòa, vì vậy Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2]. Về nội dung:
[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn ông Nguyễn Văn H và các tài liệu, chứng cứ thu thập trong hồ sơ vụ án cũng như tại phiên tòa thì có cơ sở xác định như sau:
Ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị Hằng N kết hôn ngày 06/12/2004 trên cơ sở tự do tìm hiểu, tự nguyện, đăng ký kết hôn tại UBND xã N, huyện T, tỉnh Bắc Giang. Sau ngày cưới vợ chồng về chung sống cùng nhau ngay, tình cảm ban đầu hòa thuận, hạnh phúc hiện vợ chồng đã có bốn con chung với nhau, do vậy cần xác định đây là hôn nhân hợp pháp. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng về quan điểm, lối sống không thống nhất được với nhau trong việc làm ăn phát triển kinh tế gia đình. Ông H và bà N sống ly thân và không có quan hệ tình cảm từ năm 2020, hai bên không còn quan tâm đến nhau. Nay ông H xác định tình cảm vợ chồng đã hết, cuộc sống chung không thể hàn gắn được, không còn khả năng đoàn tụ, ông đề nghị Tòa án giải quyết cho ông và bà N được ly hôn. Bà N không có ý kiến trình bày với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Xét thấy tình trạng hôn nhân của ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị Hằng N đã xảy ra căng thẳng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân một thời gian dài, không còn quan tâm đến nhau, không có quan hệ tình cảm và không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được. Nay ông H xin ly hôn, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn, xử cho ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị Hằng N được ly hôn là phù hợp với khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung: Quá trình chung sống ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị Hằng N có 04 con chung là Nguyễn Thị T, sinh ngày 10/7/2005, Nguyễn Thị H1, sinh ngày 16/12/2007, Nguyễn Thị Y, sinh ngày 06/3/2009 và Nguyễn Lan A, sinh ngày 17/01/2012. Ông H đề nghị được nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu bà N đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con.
Xét thấy con chung của ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị Hằng N có Nguyễn Thị T đã 19 tuổi do vậy không xem xét giải quyết về nghĩa vụ nuôi dưỡng. Ông H vẫn trực tiếp nuôi dưỡng Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị Y và Nguyễn Lan A từ thời điểm vợ chồng sống ly thân, nay ông H đề nghị giữ nguyên việc nuôi con như hiện nay, các cháu H1, Y và Lan A đều có ý kiến trình bày được giao cho bố nuôi dưỡng, chăm sóc. Để đảm bảo quyền và lợi ích của con trẻ trong việc giao trực tiếp người nuôi dưỡng, cần giữ nguyên hiện trạng nuôi con như hiện nay, giao cho ông H tiếp tục nuôi dưỡng các cháu H1, Y và Lan A là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con ông H không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
[2.3] Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản, công sức đóng góp và công nợ: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí: Ông Nguyễn Văn H thuộc đối tượng hộ nghèo, nên được miễn án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
[2.5] Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 271 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình. Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Nguyễn Văn H và bà Hà Thị Hằng N được ly hôn.
- Về con chung: Giao cho ông Nguyễn Văn H trực tiếp quản lý, nuôi dưỡng Nguyễn Thị H1, sinh ngày 16/12/2007; Nguyễn Thị Y, sinh ngày 06/3/2009 và Nguyễn Lan A, sinh ngày 17/01/2012, về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét giải quyết.
Bà Hà Thị Hằng N được quyền thăm nom con sau ly hôn, không ai được cản trở quyền thăm nom con của bà N.
- Về tài sản, nghĩa vụ chung về tài sản: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Ông Nguyễn Văn H được miễn tiền án phí dân sự sơ thẩm (thuộc hộ nghèo).
- Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
- - TAND tỉnh Bắc Giang;
- - VKSND huyện Tân Yên;
- - CCTHADS Tân Yên;
- - UBND xã Ngọc Lý
- - Các đương sự;
- - Lưu hs vụ án, VP.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Giáp Thị Hiền Nguyễn Văn Kiểm |
Nguyễn Huy Biên |
Bản án số 66/2024/HNGĐ-ST ngày 25/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 25/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN YÊN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Anh H kết hôn với chị N trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, trong cuộc sóng chung phát sinh mâu thuẫn, nên anh H xin ly hôn
