|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ TỈNH HẢI DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày: 20/09/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Ngọc Thành
2. Bà Bùi Thị Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Dũng - Thư ký Tòa án nhân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 09 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST-HS ngày 09/8/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 53/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 8 năm 2024 và Thông báo thời gian mở phiên toà số 01/2024/TB-TA ngày 10 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
Lê Xuân C, sinh năm 1967 tại xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; Nơi cư trú: Thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 07/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Xuân N và bà Nguyễn Thị K; vợ là: Phạm Thị T; có 02 con; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 22/5/2024 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh H. Có mặt tại phiên tòa.
* Nguyên đơn dân sự: UBND xã T, huyện T, tỉnh Hải Dương. Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Văn P – Chức vụ: Chủ tịch UBND xã. Xin vắng mặt.
* Người làm chứng:- Phạm Thị L; Nguyễn Văn N1; Nguyễn Thị H; Nguyễn Sinh Q; Hoàng Thị S; Nguyễn Danh N2; Phạm Duy N3; Nguyễn Danh Đ; Lê Văn N4; Nguyễn Ngọc C1; Nguyễn Thị N5; Nguyễn Văn V; Lê Xuân S1; Phạm Văn T1; Nguyễn Bá T2; Nguyễn Trọng T3; Nguyễn Thị L1; Nguyễn Thị K1; Nguyễn Bá Q1; Hoàng Văn L2; Phạm Văn T4; Nguyễn Danh N6; Phạm Văn D; Hoàng Văn M; Phạm Thị D1; Nguyễn Văn V1; Nguyễn Đức H1; Nguyễn Bá V2; Nguyễn Viết Ú; Vũ Thị B; Lê Thị N7; Hoàng Văn N8; Nguyễn Thị Y; Hoàng Văn L3; Dương Thị X; Lê Xuân D2; Hoàng Văn T5; Nguyễn Thị D3; Hoàng Thị H2; Lê Xuân N9; Nguyễn Thị X1; Nguyễn Thế M1; Lê Xuân T6; Lê Thị P1; Phạm Thị T7; Nguyễn Văn N10; Lê Ngọc Đ1; Phạm Hồng H3; Nguyễn Văn H4 (Nguyễn Danh H5); Nguyễn Thị X2; Hoàng Văn L4; Nguyễn Danh S2; Nguyễn Bá N11; Lê Xuân T6; Phạm Văn L5; Đặng Thị X3; Nguyễn Văn N12; Hoàng Văn N13; Nguyễn Thị V3; Đặng Thị X3; Lê Văn S3; Nguyễn Thị B1; Lê Xuân Á; Vũ Thị B2; Nguyễn Thị D4; Trần Thị L6; Lê Xuân H6. (Đều vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lê Xuân C được bầu, giữ chức vụ trưởng thôn Thừa Liệt, xã T, huyện T nhiệm kỳ từ năm 2016 đến năm 2019 theo Quyết định số 98/QĐ- UBND ngày 29/7/2016 của Ủy ban nhân dân xã T. Ngày 27/12/2016, C được Ủy ban nhân dân xã T giao quản lý số tiền 21.545.000đ với nhiệm vụ chi trả cho các hộ nông dân trên địa bàn thôn T, xã T đã đăng ký trồng cây vụ đông là giống khoai tấy mới giai đoạn 2016- 2017. Trách nhiệm của C được giao là phải công khai dân chủ, thực hiện chi trả tiền hỗ trợ theo mức quy định cho đúng đối tượng. Sau khi thực hiện chi trả xong, phải gửi danh sách đã chi trả có chữ ký đầy đủ các hộ dân về bộ phận tài chính, kế toán trước ngày 20/1/2017. Sau khi được giao tiền, C nảy sinh ý định chiếm đoạt. Danh sách có 71 hộ được chi, có người Chúc thực hiện chi trả, có hộ C không chi trả, C ký tên vào danh sách để hoàn tất thủ tục thanh toán sổ sách ghi ngày 05/11/2016. C đã chiếm đoạt số tiền hỗ trợ cho 46 đối tượng có tên trong danh sách nhận tiền, tổng số tiền là 13.115.000đ. Ngày 13/9/2023, ông Nguyễn Sinh Q ở thôn T, xã T đã làm đơn tố giác hành vi của C gửi Cơ quan cảnh sát điều tra.
Tại Kết luận giám định số 04/KL-KTHS ngày 11/1/2024 của Phòng K3- Công an tỉnh H kết luận : Chữ kỹ dưới mục TM.UỶ BAN NHÂN DÂN «, UBND XÃ, THỊ TRẤN, CHỦ TỊCH, CHỦ TỊCH UBND, Thủ trưởng đơn vị, Chủ tài khoản duyệt chi trên mẫu cần giám định với chữ ký ông Nguyễn Văn N1 trên mẫu so sánh là do cùng một người ký ra ; Hình dấu tròn có nội dung UBND XÃ THANH HẢI H THANH HÀ T HẢI DƯƠNG trên mẫu cần giám định với hình dấu tròn có cùng nội dung trên mẫu so sánh là do cùng một con dấu đóng ra ; Chứ ký của Phạm Văn M2, Nguyễn Thị H, Phạm Thị L tại mục phụ trách, ghi số tiền, người nộp, thủ quỹ, người nhận tiền, người cấp, kế toán trưởng với mẫu so sánh đều là chữ ký do cùng một người ký ra ; tại mục Ký nhận và ghi rõ họ tên, người lập, người cấp, TRƯỞNG THÔN, XÓM trên các mẫu cần giám định của Lê Xuân C với mẫu so sánh do cùng một người ký ra. Các mẫu chữ ký tại mục Ký nhận đánh số thứ tự từ 1 đến 34 và từ 1 đến 39 và số thứ tự 6, 9 tại mẫu cần giám định với các mẫu so sánh không đủ cơ sở kết luận do cùng người ký ra của những người có tên sau :
Phạm Hồng H3, Nguyễn Sinh Q, Nguyễn Danh N2, Phạm Duy N3, Nguyên Danh Đ2, Lê Văn N4, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Thị N5, Nguyễn Văn V, Lê Văn S4, Nguyễn Thị T8, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn N12, Nguyễn Văn H4 (Nguyễn Danh H5), Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Văn T9, Nguyễn Thị X2, Vũ Thị D5, Nguyễn Thị L1, Nguyễn Thị K1, Nguyễn Danh Ẩ, Hoàng Văn N13, Nguyễn Bá Q1, Hoàng Văn L4, Phạm Văn T4, Nguyễn Thị V3, Nguyễn Danh N14, Phạm Văn H7, Nguyễn Danh S2, Lê Văn S3, Hoàng Văn L7, Phạm Văn D, Nguyễn Thị B1, Nguyễn Bá N11, Hoàng Văn M, Phạm Thị D1, Phạm Văn L5, Nguyễn Thị K1, Nguyễn Danh H8, Đặng Thị X3, Nguyễn Văn V1, Lê Xuân Á, Vũ Thị C3, Nguyễn Viết Ú, Vũ Thị B2, Lê Thị N7, Lê Thị N15, Nguyễn Thị Y, Hoàng Văn N16, Dương Thị X, Lê Xuân D2, Lê Xuân H9, Hoàng Văn T5, Nguyễn Thị D4, Nguyễn Thị D3, Hoàng Thị H2, Lê Xuân N9, Nguyễn Thị X1, Nguyễn Thế M1, Phạm Văn L8, Lê Xuân T6, Lê Thị P1, Lê Xuân H6, Lê Xuân B3, Phạm Thị T7, Nguyễn Văn N17, Trần Thị L6, Nguyễn Văn T9, Lê Ngọc Đ1, Lê Xuân K2, Lê Xuân M3, Nguyễn Đức H1.
Tại Kết luận giám định số 412/KL-KTHS ngày 26/3/2024 và 2818/KL-KTHS ngày 29/5/2024 của V4- Bộ C4 kết luận : Chữ ký, chữ viết tên Lê Xuân C trên mẫu cần giám định và các mẫu so sánh là do cùng một người viết ra. Các chữ kỹ tại mục Ký nhận theo các số thứ tự từ số 1, 2, 3, 4, 5, 7, 9, 12, 13 14, 15, 17, 22, 24, 25, 26, 27, 29, 30, 32, 33, 34, 1, 2, 3, 7, 10, 11, 13, 14, 15, 17, 19, 20, 22, 23, 24, 25, 27, 30, 31, 32, 34, 35, 36 trên mẫu cần giám định với mẫu so sánh là không phải do cùng một người ký ra bao gồm : Phạm Hồng H3, Nguyễn Sinh Q, Nguyễn Danh N2, Phạm Duy N3, Nguyễn Danh Đ, Nguyễn Ngọc C1, Nguyễn Văn V, Nguyễn Bá T2, Nguyễn Văn H4 (Nguyễn Danh H5), Nguyễn Trọng T3, Nguyễn Thị X2, Hoàng Văn L4, Phạm Văn T4, Nguyễn Danh N6, Nguyễn Danh S2, Phạm Văn D, Nguyễn Bá N11, Hoàng Văn M, Phạm Thị D1, Phạm Văn L5, Đặng Thị X3, Nguyễn Viết Ú, Lê Thị N7, Nguyễn Thị Y, Dương Thị X, Lê Xuân D2, Hoàng Văn T5, Nguyễn Thị D3, Hoàng Thị H2, Nguyễn Thị X1, Lê Xuân T6, Lê Thị P1, Phạm Thị T7, Nguyễn Văn N10, Nguyễn Văn N12, Nguyễn Thị K1, Hoàng Văn N13, Nguyễn Thị V3, Đặng Thị X3, Lê Văn S3, Nguyễn Thị B1, Lê Xuân Á, Vũ Thị B2, Nguyễn Thị D4, Trần Thị L6, Lê Xuân H6. Chữ ký tại mục Ký nhận số thứ tự 9, 56, 18, 21, 16, 37, 28, 31, 5, 21, 26, 28, 29, 39, 06, 16 mẫu cần giám định với mẫu so sánh của Nguyễn Văn V, Hoàng Văn T5, Nguyễn Văn T9, Vũ Thị D5, Nguyễn Danh Ẩ, Phạm Văn H10, Hoàng Văn L7, Nguyễn Danh H8, Lê Xuân H9, Lê Xuân N9, Nguyễn Thế M1, Phạm Văn L8, Lê Xuân K2, Lê Xuân M3, Lê Thị N15 do cùng một người ký ra. Các mẫu chữ ký tại mục Ký nhận số thứ tự 6, 8, 10, 11, 19, 20, 23, 8, 42, 12, 46, 18, 52, 38, 72, 9, 43 trên mẫu cần giám định và mẫu so sánh không đủ cơ sở kết luận do cùng một người ký ra.
Tại bản Cáo trạng số 45/CT-VKSHD-TH ngày 05/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố Lê Xuân C về tội Tham ô tài sản theo khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. Hành vi của bị cáo C vẫn còn thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án có đủ cơ sở kết luận:
Trong khoảng thời gian từ ngày 27/12/2016 đến ngày 20/01/2017 Lê Xuân C giữ chức vụ Trưởng thôn Thừa Liệt, xã T, được giao trách nhiệm quản lý số tiền 21.545.000đ từ Ngân sách xã T để thực hiện nhiệm vụ chi trả hỗ trợ các hộ nông dân trên địa bàn thôn trồng khoai tây giống mới thuộc vụ đông giai đoạn 2016-2017. C đã lợi dụng chức vụ, nhiệm vụ được giao tự mình giả mạo chữ ký trong danh sách ký nhận tiền của 46 người dân thôn T chiếm đoạt số tiền 13.115.000đ.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức việc lợi dụng chức vụ, nhiệm vụ được giao giả mạo chữ ký để chiếm đoạt tiền là vi phạm pháp luật nhưng vì mục đích tư lợi cá nhân bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo gây thiệt hại cho Ngân sách Nhà nước là xâm phạm trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, tài sản của Nhà nước được pháp luật bảo vệ, làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan Nhà nước, cán bộ trong quá trình thực hiện nhiệm vụ. Hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội Tham ô tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 353 Bộ luật hình sự. Số tiền bị cáo chiếm đoạt không phải là tiền dùng vào mục đích xoá đói, giảm nghèo, không phải tiền phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với người có công với cách mạng, tiền trong các loại quỹ dự phòng hoặc tài sản, tiền trợ cấp quyên góp cho những vùng bị thiệt hại, dịch bệnh, vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên không có căn cứ truy cứu bị cáo theo điểm, khoản khác của điều luật. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Hà truy tố các bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, tự nguyện khắc phục hậu quả; trong thời gian giữ chức vụ Trưởng thôn đã tích cực tuyên truyền, vận động người dân thực hiện xây dựng đời sống văn hoá; bị cáo C là người thờ cúng liệt sỹ Lê Xuân T10 (là anh trai của bị cáo) nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s, b khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Căn cứ tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi bị cáo cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa.
[5] Về hình phạt bổ sung: : Cần áp dụng hình phạt bổ sung là cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến hành vi phạm tội trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù theo quy định tại khoản 5 Điều 353 Bộ luật hình sự.
[6] Biện pháp tư pháp: Số tiền 13.115.000đ bị cáo gây thiệt hại Ngân sách Nhà nước đã được xã T hoàn thiện thủ tục, chứng từ rút về Ngân sách xã để thực hiện chi trả cho các hộ dân. Vì vậy, cần tịch thu trả Ngân sách xã T để thực hiện việc chi trả cho các hộ dân chưa nhận được tiền theo quy định. Bị cáo đã tự nguyện nộp toàn bộ số tiền là 13.115.000đ đang được quản lý tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Hà.
[7] Về vật chứng:
Toàn bộ tài liệu chứng cứ là danh sách hộ nông dân nhận tiền hỗ trợ giống khoai tây, chứng từ, là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[9] Các vấn đề khác:
- Đối với ông Nguyễn Văn N1, bà Phạm Thị L, bà Nguyễn Thị H không cấu thành tội Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng nên không có căn cứ để xử lý.
- Chưa có đủ căn cứ xác định số tiền 4.485.000đ của 17 người dân đã nhận hay chưa và C có chiếm đoạt số tiền này nên không có căn cứ để xử lý.
- Ông Nguyễn Sinh Q, ông Phạm Văn D, bà Nguyễn Thị H, bà Phạm Thị L (thời điểm đó ông D, bà H, bà L đang là phó thôn T, Kế toán, thủ quỹ) không được giao quản lý, thực hiện chi trả tiền cho các hộ dân và tham gia bàn bạc, hưởng lợi hay biết việc bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội nên không phải chịu trách nhiệm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1, khoản 5 Điều 353; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.
- Tuyên bố: Bị cáo Lê Xuân C phạm tội Tham ô tài sản.
- Xử phạt: - Bị cáo 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/5/2024.
- Hình phạt bổ sung: Cấm bị cáo đảm nhiệm chức vụ liên quan đến hành vi phạm tội trong thời hạn 01 năm kể từ ngày chấp hành xong hình phạt tù.
- Biện pháp tư pháp; vật chứng: - Căn cứ khoản 2 Điều 47 của Bộ luật Hình sự. Điểm b khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu toàn bộ số tiền 13.115.000đ trả vào Ngân sách của UBND xã T. Số tiền trên đang được quản lý tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Hà.
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, nguyên đơn dân sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
- Toàn bộ tài liệu chứng cứ là hoá đơn, chứng từ; danh sách hộ nông dân nhận tiền hỗ trợ giống khoai tây là tài liệu chứng minh tội phạm cần lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự (tham ô tài sản)
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tham ô tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH HÀ, TỈNH HẢI DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ ngày 27/12/2016 đến ngày 20/01/2017 Lê Xuân Chúc giữ chức vụ Trưởng thôn Thừa Liệt, xã Thanh Hải, được giao trách nhiệm quản lý số tiền 21.545.000đ từ Ngân sách xã Thanh Hải để thực hiện nhiệm vụ chi trả hỗ trợ các hộ nông dân trên địa bàn thôn trồng khoai tây giống mới thuộc vụ đông giai đoạn 2016- 2017. Chúc đã lợi dụng chức vụ, nhiệm vụ được giao tự mình giả mạo chữ ký trong danh sách ký nhận tiền của 46 người dân thôn Thừa Liệt chiếm đoạt số tiền 13.115.000đ.
