|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/KDTM-ST
Ngày: 12 - 9 - 2024
V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Phạm Thị Tú Nga
- Ông Hồ Đắc Toàn
Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Văn Phương Nhi là Thư ký Toà án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Trần Thanh Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 47/2024/TLST-DS ngày 29 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp “Hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 235/2024/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 7 năm 2024, Quyết định hoãn phiên toà số: 219/2024/QÐST-DS ngày 20 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần S.
Trụ sở: 77 đường T, quận H, Thành Phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Ngô Thu H – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Anh Nguyễn Thanh L, anh Phan Hữu T, anh Trần Thanh D, anh Nguyễn Văn N; Địa chỉ: 85 đường M, thành phố Q, tỉnh Bình Định. (Văn bản ủy quyền số 66/2024/UQ – SHB.BĐ ngày 28/6/2024). Anh L, anh N, anh D có mặt
* Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Thanh N1, sinh năm 1975 (Vắng mặt).
Nơi ĐKNKTT: Tổ C, khu phố G, phường Đ, thành phố Q, tỉnh Bình Định.
Chỗ ở hiện nay: Tổ C, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần S (viết tắt Ngân hàng)- Người đại diện theo ủy quyền anh Nguyễn Thanh L, anh Trần Thanh D, anh Nguyễn Văn N trình bày:
Ngân hàng và chị Nguyễn Thị Thanh N1 có ký Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 21/2022/HDHM-CN/SHB.131700 ngày 22.02.2022. Theo hợp đồng, Ngân hàng cho chị Nguyễn Thị Thanh N1 vay số tiền 3.850.000.000đ; Mục đích sử dụng vốn vay: Bổ sung vốn kinh doanh hải sản; Thời hạn cho vay: 06 tháng; Lãi suất trong hạn: Được quy định trong từng Khế ước nhận nợ cụ thể, lãi suất cho vay điều chỉnh định kỳ 03 tháng/lần, mức điều chỉnh được xác định bằng mức lãi suất cơ sở áp dụng tại thời điểm điều chỉnh + biên độ 3,0%/năm; Lãi suất nợ quá hạn: 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn; Lãi suất áp dụng đối với lãi chậm trả: 50% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không quá 10%/năm tính trên số dư lãi chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Ngân hàng đã giải ngân cho chị Nguyễn Thị Thanh N1 số tiền là 3.850.000.000₫ theo các khế ước nhận nợ số 04-21/2022/HDHM-CN/SHB.131700 ngày 12.10.2022, 05-21/2022/HDHM-CN/SHB.131700 ngày 21.02.2023.
Để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ, chị Nguyễn Thị Thanh N1 đã thế chấp cho Ngân hàng Quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 73, tờ bản đồ 81, địa chỉ: tổ C, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 91/2020/HĐTC-CN/SHB.131700 ký ngày 06/11/2020, được công chứng tại phòng C; tài sản thế chấp đã được đăng ký giao dịch bảo đảm tại cơ quan chức năng theo quy định của pháp luật.
Quá trình thực hiện hợp đồng, chị Nguyễn Thị Thanh N1 đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc, lãi cho Ngân hàng như đã ký kết, mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nên toàn bộ nợ gốc và lãi đã chuyển sang nợ quá hạn. Tạm tính đến ngày 12/9/2024, chị Nguyễn Thị Thanh N1 còn nợ Ngân hàng tổng cộng gốc và lãi là 4.815.982.488đ (Trong đó nợ gốc 3.850.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 53.744.132đ; nợ lãi quá hạn 908.007.534₫ và nợ lãi chậm trả 4.230.822đ). Ngân hàng yêu cầu chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải có nghĩa vụ trả toàn bộ khoản nợ trên và tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất đã thoả thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn kể từ ngày 13-9-2024 cho đến khi trả hết nợ.
Trường hợp chị Nguyễn Thị Thanh N1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ thì Ngân hàng có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ theo nội dung Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 91/2020/HĐTC-CN/SHB.131700 ký ngày 06/11/2020 đã được công chứng tại phòng C.
Bị đơn chị Nguyễn Thị Thanh N1: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, chị Nguyễn Thị Thanh N1 đã được Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng không đến Tòa để khai báo, không tham gia phiên tòa và cũng không cung cấp tài liệu, chứng cứ.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn phát biểu việc tuân thủ pháp luật về tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
- - Thẩm phán đã thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm xét xử sơ thẩm. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa tuân thủ đúng theo qui định của pháp luật.
- - Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng dân sự: Đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa được quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70 và 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 117, 299, 317, 319, 323, 463, 466 của Bộ luật dân sự; Điều 91, 95, 98 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 7, 8, 12 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S, buộc chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền 4.815.982.488đ (Trong đó: Nợ gốc 3.850.000.000 đồng, nợ lãi trong hạn 53.744.132đ, nợ lãi quá hạn 908.007.534₫ và nợ lãi chậm trả 4.230.822đ) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất đã thỏa thuận tại theo Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp chị Nguyễn Thị Thanh N1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ số tiền thì Ngân hàng thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 91/2020/HĐTC-CN/SHB.131700 ký ngày 06/11/2020 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và chị Nguyễn Thị Thanh N1 để thu hồi nợ; Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Ngân hàng khởi kiện chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải trả nợ khoản vay. Mục đích vay để bổ sung vốn kinh doanh hải sản, Hội đồng xét xử xác định đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Bị đơn, chị Nguyễn Thị Thanh N1 đã được Tòa án tống đạt Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Do đó căn cứ theo điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Ngày 22/02/2022 Ngân hàng và chị Nguyễn Thị Thanh N1 có ký Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 21/2022/HDHM-CN/SHB.131700. Theo hợp đồng cấp hạn mức, chị Nguyễn Thị Thanh N1 vay số tiền 3.8500.000đ (Tại các khế ước nhận nợ số 04-21/2022/HDHM-CN/SHB.131700 ngày 12/10/2022, 05-21/2022/HDHM-CN/SHB.131700 ngày 21/02/2023), thời hạn 06 tháng, lãi suất vay: Trong hạn là 11.1%/năm và 15%/năm, quá hạn là 150% lãi suất trong hạn, lãi suất chậm trả là 50% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chậm trả lãi nhưng không quá 10%/năm, mục đích vay: Bổ sung vốn kinh doanh hải sản.
Để đảm bảo khoản vay, các bên có xác lập Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 91/2020/HĐTC-CN/SHB.131700 ngày 06/11/2020. Hợp đồng thế chấp được công chứng số 07197 ngày 06/11/2020 tại Văn phòng C1 và được đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất ngày 06/11/2020 tại Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B, chi nhánh thành phố Q. Do đó, căn cứ vào các Điều 117, 317, 319 Bộ luật dân sự hợp đồng thế chấp nêu trên là hợp pháp.
[3] Quá trình thực hiện hợp đồng, chị N1 không thực hiện đúng theo cam kết trong hợp đồng nên đã chuyển sang nợ quá hạn. Xét thấy: Ngân hàng yêu cầu chị N1 phải thanh toán nợ gốc, nợ lãi tính đến ngày 12/9/2024 là 4.815.982.488₫ (Trong đó: Nợ gốc 3.850.000.000 đồng; nợ lãi trong hạn 53.744.132đ; nợ lãi quá hạn 908.007.534₫ và nợ lãi chậm trả 4.230.822đ) và tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất đã thoả thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn kể từ ngày 13-9-2024 cho đến khi trả hết nợ là đúng với nội dung thỏa thuận mà các bên kí kết tại Hợp đồng cấp hạn mức nêu trên. Do đó, căn cứ vào các Điều 463, 466, 468 Bộ luật dân sự; khoản 2 Điều 91, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng về nghĩa vụ trả nợ của chị N1 đối với nợ gốc, nợ lãi trong hạn, nợ lãi quá hạn, nợ lãi chậm trả và tiếp tục trả lãi phát sinh cho đến khi trả hết nợ.
[4] Xét yêu cầu xử lý tài sản bảo đảm của Ngân hàng: Theo Hợp đồng thế chấp tài sản các bên đã ký kết ngày 06/11/2020, trường hợp chị N1 vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng có quyền xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ. Do đó, Ngân hàng yêu cầu xử lý tài sản đã thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 73, tờ bản đồ 81, địa chỉ: tổ C, khu phố A, phường N, thành phố Q, tỉnh Bình Định theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, số vào sổ cấp GCN: CH00555 ngày 15/8/2012 của Ủy ban nhân dân thành phố Q để thu hồi nợ khi chị N1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ là có căn cứ theo quy định tại các Điều 299, 323 Bộ luật dân sự.
[5] Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ 3.000.000đ, Ngân hàng đã tạm ứng. Theo Điều 157 Bộ luật tố tụng dân sự, chị N1 phải có nghĩa vụ chịu nên có nghĩa vụ hoàn lại cho Ngân hàng.
[6] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Theo quy định tại Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chị N1 phải chịu 112.816.000₫.
[7] Đại diện Viện kiểm sát viên thành phố Q, tỉnh Bình Định phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 230, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 117,119, 299, 303 ,317, 318, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự;
Căn cứ vào khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số qui định pháp luật về lãi, lãi suất phạt vi phạm;
Căn cứ các Điều 144, Điều 147, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S.
- Buộc chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 12/9/2024 là 4.815.982.488đ (Trong đó: Nợ gốc 3.850.000.000đ; nợ lãi trong hạn 53.744.132đ; nợ lãi quá hạn 908.007.534đ và nợ lãi chậm trả 4.230.822đ) và tiếp tục trả lãi phát sinh từ ngày 13.9.2024 cho đến khi trả hết nợ, theo mức lãi suất các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cấp hạn mức vay vốn số 21/2022/HDHM-CN/SHB.131700 ngày 22.02.2022.
- Trường hợp chị Nguyễn Thị Thanh N1 không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ số tiền trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần S có quyền yêu cầu cơ quan Thi hành án dân sự có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 91/2020/HĐTC-CN/SHB.131700 ký ngày 06/11/2020 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S và chị Nguyễn Thị Thanh N1 để thu hồi nợ.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, chị Nguyễn Thị Thanh N1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 3.000.000đ.
- Về án phí:
- Chị Nguyễn Thị Thanh N1 phải chịu 112.816.000đ án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm.
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng thương mại cổ phần S 56.144.000đ tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000539 ngày 29.02.2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn.
- Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Nguyễn Thị Diễm |
Bản án số 66/2024/KDTM-ST ngày 12/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 66/2024/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/09/2024
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
