Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM ĐỘNG

TỈNH HƯNG YÊN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HS - ST

Ngày: 10/9/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Đỗ Văn Quyền.
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Nguyên và bà Vũ Thị Liên.
  • - Thư ký phiên toà: Bà Phan Huyền Trang - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Động.
  • - Đại diện VKSND huyện tham gia phiên toà: Ông Dương Sơn T – Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Kim Động, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 67/2024/TLST- HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 66/2024/QĐXXST - HS ngày 27 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Đỗ Quốc V, sinh năm 2000 tại Hưng Yên; Nơi đăng ký HKTT: Thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Con ông: Đỗ Hải N, sinh năm 1977; Con bà: Đào Thị Hồng N1, sinh năm 1978; Vợ, con: Chưa có.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo được áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, tuy nhiên, bị cáo đã vi phạm nghĩa vụ cam đoan khi áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú nên bị bắt tạm giam từ ngày 24/6/2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện K - Có mặt tại phiên tòa.

  • * Bị hại: Bà Đào Thị G, sinh năm 1981; nơi ĐKHKTT: Thôn V, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; nơi ở hiện nay: Thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên – Có mặt.
  • * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • + Bà Đào Thị Hồng N1, sinh năm 1978 – Có mặt.
    • + Ông Phạm Xuân Đ, sinh năm 1978 – Có mặt.

Đều trú tại: Thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Chiều ngày 17/10/2022, Đỗ Quốc V, sinh năm 2000 ở thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên đến quán trà sữa cùng thôn của bà Đào Thị G, sinh năm 1981, hộ khẩu thường trú tại thôn V, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định để mua trà sữa. Tại đây, V nảy sinh ý định lừa tiền của bà G nên hỏi bà G có 9.000.000 đồng tiền mặt không đổi cho V thì V sẽ sử dụng tài khoản ngân hàng T1 số 19035905070011 mang tên Đỗ Quốc V chuyển khoản số tiền 9.000.000 đồng đến tài khoản ngân hàng N2 số 2403205215588 mang tên Đào Thị G để trả bà G. Bà G đồng ý và đưa 9.000.000 đồng tiền mặt cho V. V giả vờ thao tác trên điện thoại iphone 7 của V một lúc rồi báo đã chuyển tiền thành công, bà G kiểm tra chưa nhận được tiền thì V bảo tài khoản ngân hàng của V đã bị trừ tiền, chắc do ngân hàng bị lỗi nên bà G đợi một lúc. Do tin tưởng V là người cùng làng nên bà G đồng ý cho V cầm số tiền 9.000.000 đồng về. Sáng ngày 18/10/2022, bà G nhắn tin qua ứng dụng Facebook messenger cho V hỏi về việc vẫn chưa nhận được tiền thì V bảo ngân hàng T1 bị lỗi. Đến khoảng gần trưa ngày 18/10/2022, với thủ đoạn như trên, V tiếp tục đến quán của bà G hỏi đổi 3.000.000 đồng tiền mặt lấy 3.000.000 đồng tiền tài khoản ngân hàng, khi bà G đưa 3.000.000 đồng tiền mặt cho V thì V giả vờ thao tác trên điện thoại một lúc rồi bảo đã chuyển tiền thành công, bà G báo chưa nhận được tiền thì V tiếp tục bảo do lỗi ngân hàng. Do tin tưởng nên bà G đồng ý chờ và để V cầm tiền đi về. Đến chiều cùng ngày, V sử dụng điện thoại truy cập địa chỉ trang web (Việt không nhớ đường link truy cập) cho phép chỉnh sửa hình ảnh, V chỉnh sửa hình ảnh với nội dung chuyển khoản số tiền 8.000.000 đồng thành công từ tài khoản ngân hàng T1 số 19035905070011 mang tên Đỗ Quốc V đến tài khoản ngân hàng N2 số 2403205215588 mang tên Đào Thị G. Sau khi chỉnh sửa xong, V đến quán bà G hỏi đổi 8.000.000 đồng tiền mặt lấy 8.000.000 đồng tiền tài khoản, khi bà G đưa cho V số tiền 8.000.000 đồng thì V giơ điện thoại iphone 7 có hình ảnh đã chỉnh sửa với nội dung chuyển tiền thành công trước đó cho bà G xem, do tin tưởng nên bà G đồng ý cho V cầm tiền đi về. Sau khi lừa được của bà G số tiền 20.000.000 đồng nêu trên, V đã sử dụng toàn bộ số tiền trên vào mục đích cá nhân. Sau đó, nhiều lần bà G nhắn tin hỏi V về việc chưa nhận được tiền thì V nói dối ngân hàng bị lỗi. Đến ngày 31/10/2022, V sử dụng tài khoản T1 số 19035905070011 chuyển trả bà G số tiền 3.000.000 đồng. Sau đó, bà G nhiều lần đòi 17.000.000 đồng còn lại nhưng V không trả.

Ngày 22/02/2024, bà G có đơn trình báo lên Công an xã Đ sự việc trên. Sau đó, V đã nhờ ông Phạm Xuân Đ, sinh năm 1978 ở thôn V bồi thường số tiền 17.000.000 đồng cho bà G nên bà G đã giao nộp cho Công an xã Đ 17.000.000 đồng trên. Ngày 26/02/2024, Công an xã Đ chuyển vụ việc Cơ quan CSĐT – Công an huyện K giải quyết theo thẩm quyền.

Ngày 22/4/2024, Cơ quan CSĐT – Công an huyện K tiến hành kiểm tra điện thoại của bà G thu giữ được tập hình ảnh nhắn tin giữa bà G và V qua ứng dụng facebook messenger, đồng thời tiến hành cho bà G và V giải trình đều xác định nội dung: khoảng 13 giờ 38 phút ngày 17/10/2022, V nhắn tin cho bà G hỏi mua ship trà sữa nhưng sau đó V đổi ý và tự đến quán trà sữa của bà G vào chiều ngày 17/10/2022, quá trình mua trà sữa tại quán trà sữa của bà G thì diễn ra sự việc đổi tiền. Sau đó, Cơ quan CSĐT – Công an huyện K đã tiến hành tra cứu, sao kê tài khoản ngân hàng T1 số 19035905070011 mang tên Đỗ Quốc V, đồng thời cho V xem và giải trình sao kê tài khoản ngân hàng trên xác định trong 02 ngày 17 và ngày 18/10/2022 không có mã giao dịch chuyển tiền nào đến tài khoản ngân hàng của bà G và từ hồi 10 giờ 18 phút, ngày 17/10/2022 cho đến hết ngày 17/10/2022 thì tài khoản ngân hàng của V không đủ số tiền 9.000.000 đồng.

Qua tra cứu tài khoản ngân hàng N2 số 2403205215588 mang tên Đào Thị G xác định trong hai ngày 17/10/2022 và 18/12/2022 không có lệnh chuyển tiền từ tài khoản nào khác đến tài khoản trên của bà G bị lỗi.

Quá trình điều tra, bị cáo Đỗ Quốc V và bà Đào Thị G đều khai nhận việc đổi tiền giữa V và bà G vào hai ngày 17 và ngày 18/10/2022 là giao dịch trao đổi tiền với nhau, không phải là giao dịch vay tiền và mỗi lần đổi tiền là riêng biệt. Ngoài ra, V chỉ thừa nhận có hành vi lừa đảo chiếm đoạt số tiền 8.000.000 đồng của bà G vào chiều ngày 18/10/2022, còn hai lần đổi tiền trước là trong tài khoản của V đều có đủ tiền nhưng khi V chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng T1 đến tài khoản ngân hàng của bà G thì báo lỗi nên V nói với bà G khi về sẽ chuyển khoản lại trả cho bà G. Tuy nhiên, tại giai đoạn truy tố, V đã thay đổi lời khai và thừa nhận ba lần lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà G như đã nêu trên, lời khai của V tại giai đoạn truy tố phù hợp với lời khai của bị hại cùng các tài liệu, chứng cứ được thu thập trong hồ sơ vụ án.

  • * Về vật chứng:
  • - Đối với số tiền 17.000.000 đồng, qua điều tra xác định là tiền bồi thường thiệt hại của V cho bà G. Bà G có đơn xin lại số tiền trên nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện K đã trả lại cho bà G 17.000.000 đồng
  • - Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu iphone 7, V khai nhận sử dụng vào việc phạm tội, tuy nhiên V đã bán lại cho một cửa hàng điện thoại không rõ địa chỉ tại Thành phố Hải Phòng, V không nhớ bán được bao nhiêu tiền, nên Cơ quan CSĐT – Công an huyện K không thu giữ được.
  • * Về trách nhiệm dân sự: Sau khi bà G nộp đơn trình báo lên công an, bị cáo V nhờ ông Phạm Xuân Đ, sinh năm 1978 ở thôn V bồi thường số tiền 17.000.000 đồng cho bà G, bà G đã nhận và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Sau đó, bà Đào Thị Hồng N1, sinh năm 1978 ở thôn V (mẹ đẻ bị cáo V) đã sử dụng 17.000.000 đồng là tiền Việt gửi cho bà N1 cầm hộ để trả lại cho ông Đ.

Tại bản cáo trạng số: 69/CT-VKSKĐ ngày 15/8/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động đã truy tố bị cáo Đỗ Quốc Việt về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo điểm khoản 1 điều 174 Bộ luật hình sự.

*Tại phiên tòa hôm nay:

Bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

* Đại diện VKSND huyện Kim Động trình bày lời luận tội giữa nguyên cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo về tội “ Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và đề nghị HHĐ:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đỗ Quốc V.
  • + Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc V phạm tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản".
  • + Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Đỗ Quốc V từ 02 (hai) năm đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/6/2024.
  • - Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về xử lý vật chứng: Không đặt ra xem xét, giải quyết.
  • - Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự và án phí sơ thẩm dân sự theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Động, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được Cơ quan điều tra thu thập theo quy định của pháp luật. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận: Chiều ngày 17/10/2022; sáng và chiều ngày 18/10/2022 tại thôn V, xã Đ, huyện K, tỉnh Hưng Yên, Đỗ Quốc V ba lần lừa dối bà G đổi tiền mặt cho V rồi V sẽ chuyển khoản trả bà G nhưng V không trả và không có tiền trả bà G, đã chiếm đoạt tiền của bà Đào Thị G lần lượt là 9.000.000 đồng, 3.000.000 đồng và 8.000.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát đã truy tố các bị cáo theo tội danh và Điều luật viện dẫn nêu trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

[3] Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ sức khoẻ để lao động, làm việc nhưng vì ham chơi, lười lao động mà vẫn muốn có tiền để tiêu sài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bằng thủ đoạn gian dối, lợi dụng lòng tin của bị hại, bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại tổng số tiền là 20.000.000đồng. Hành vi của bị cáo gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Vì vậy, để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân tốt có ích cho gia đình và xã hội cần phải tuyên phạt bị cáo một hình phạt tương xứng với tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện.

[4] Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo.

  • * Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự gì.
  • * Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo chịu 01 tình tiết tăng nặng TNHS là phạm tội 02 lần trở nên theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
  • * Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà mình đã gây, bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả bồi thường cho bị hại số tiền mà bị cáo đã chiếm đoạt nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra, bị cáo có ông nội là ông Đỗ Đức Đ1 được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng nhất, Huân chương chiến sĩ giải phóng; ông ngoại bị cáo là ông Đào Văn C được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến hạng nhì, Huy chương chiến sỹ giải phóng và tại phiên tòa bị hại đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất nên bị cáo được thêm các tình tiết giảm nhẹ TNHS theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luận hình sự.

Từ những phân tích trên, HĐXX nhận định về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS được áp dụng đối với bị cáo, HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.

[5] Trách nhiệm dân sự: Sau khi bà G nộp đơn trình báo lên công an, bị cáo V nhờ ông Phạm Xuân Đ, sinh năm 1978 ở thôn V bồi thường số tiền 17.000.000 đồng cho bà G, bà G đã nhận và không có yêu cầu bồi thường gì khác. Sau đó, bà Đào Thị Hồng N1, sinh năm 1978 ở thôn V (mẹ đẻ bị cáo V) đã sử dụng 17.000.000 đồng là tiền Việt gửi cho bà N1 cầm hộ để trả lại cho ông Đ. Bà G và ông Đ đã nhận đủ số tiền nên không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự và án phí sơ thẩm dân sự theo Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 174, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
    • * Tuyên bố bị cáo Đỗ Quốc V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
    • * Xử phạt bị cáo: Đỗ Quốc V 01 (một) năm 09 (chín) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 24/6/2024.
  2. Trách nhiệm dân sự: Không đặt ra giải quyết.
  3. Về án phí: Buộc bị cáo Đỗ Quốc V phải chịu 200.000 đồng án phí sơ thẩm hình sự.
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV và THA - Tòa án tỉnh;
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ CA huyện;
  • - VKS + THA huyện;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ;

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đỗ Văn Quyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS - ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 66/2024/HS - ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM ĐỘNG - TỈNH HƯNG YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đỗ Quốc Việt trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger