|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU- TP. ĐÀ NẴNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/DS-ST
Ngày 30 tháng 7 năm 2024
V/v "Tranh chấp hợp đồng tín dụng"
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU - TP ĐÀ NẴNG
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Ngọc Hà
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Công Lương
Ông Đặng Công Tâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thùy Dương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, TP Đà Nẵng, Tòa án xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 432/2023/TLST-DS ngày 11/12/2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 432/2024/QĐXXST-DS ngày 06/6/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 432/2024/QĐST-DS ngày 21/6/2024 và Thông báo về việc dời ngày xét xử vụ án dân sự số 432/TB-TA ngày 09/7/2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP X; Địa chỉ: Tầng H tòa nhà V, số G L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh. Đại diện theo ủy quyền: bà Hồ Thị N - Trường phòng Khách hàng Cá nhân E; Địa chỉ: 1 N, phường H, quận C, thành phố Đà Nẵng (Theo Quyết định phân công công tác nhân sự số 1501/2024/EIB/QĐ-TGĐ ngày 05/3/2024 của Chủ tịch Hội đồng quản trị và Giấy ủy quyền số 67/2024/EIBNDN/UQ-GĐ ngày 15/3/2024 của Giám đốc chi nhánh N1). Có mặt tại phiên tòa.
- Bị đơn: Ông Đặng Văn Đ, sinh năm 1974; Địa chỉ: K N, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai và tại phiên tòa hôm nay, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – bà Hồ Thị N trình bày:
Ngày 22/8/20219, ông Đặng Văn Đ có ký với Ngân hàng TMCP X 01 Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng quốc tế theo hình thức miễn bảo đảm tín dụng (tín chấp), hạn mức tín dụng 30.000.000 đồng.
Căn cứ hợp đồng thẻ tín dụng, Ngân hàng đã phát hành thẻ tín dụng quốc tế Master Gold cho ông Đặng Văn Đ, số tài khoản thẻ 160010501000422, đã kích hoạt thẻ tín dụng ngày 07/11/2019.
Trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Đặng Văn Đ đã thực hiện các giao dịch với số tiền 656.580.775 đồng. Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Đ đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 629.328.904 đồng. Từ kỳ sao kê tháng 7/2023 ông Đặng Văn Đ đã không thanh toán nợ thẻ đúng hạn nên Ngân hàng thực hiện khóa thẻ của ông Đ từ ngày 07/8/2023.
Mặc dù Ngân hàng đã thường xuyên đôn đốc, nhiều lần làm việc trực tiếp và yêu cầu ông Đ có trách nhiệm thanh toán ngay khoản nợ quá hạn, đồng thời Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để ông Đ trả nợ, tuy nhiên ông Đ vẫn chưa thanh toán cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã qui định tại Hợp đồng đã ký.
Do vậy Ngân hàng TMCP X đề nghị Tòa án tuyên buộc ông Đặng Văn Đ phải thanh toán nợ vay cho Ngân hàng TMCP X số tiền nợ gốc và lãi phát sinh: 39.693.716 đồng tính đến ngày 30/7/2024 (Trong đó nợ gốc: 29.158.271 đồng, lãi quá hạn 10.535.445 đồng). Và lãi quá hạn phát sinh tiếp theo tính từ ngày 31/7/2024 theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký vào ngày 22/8/2019 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi ông Đ thanh toán xong khoản nợ.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã triệu tập ông Đặng Văn Đ để lấy lời khai và tham gia hòa giải nhưng ông Đ vắng mặt không có văn bản trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
* Tại phiên tòa sơ thẩm, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng dân sự kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đều đúng pháp luật.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; buộc ông Đặng Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP X số tiền là 39.693.716 đồng tính đến ngày 30/7/2024 (Trong đó nợ gốc: 29.158.271 đồng, lãi quá hạn 10.535.445 đồng) và lãi quá hạn phát sinh tiếp theo tính từ ngày 31/7/2024 theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng đã ký vào ngày 22/8/2019 trên số tiền nợ gốc còn lại cho đến khi ông Đ thanh toán xong khoản nợ và phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP X đối với bị đơn ông Đặng Văn Đ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hải Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố dụng dân sự.
Bị đơn là ông Đặng Văn Đ đã được Tòa án thực hiện các thủ tục triệu tập hợp lệ để tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng đến lần thứ hai vẫn không có mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 để xét xử vắng mặt đương sự nói trên.
[2] Về nội dung vụ án: Căn cứ của Ngân hàng do ông Đặng Văn Đ đăng ký ngày 22/8/2019 và được Ngân hàng phê duyệt ngày 22/8/2019 để ông Đ được sử dụng thẻ tín dụng quốc tế của Ngân hàng với hạn mức 30.000.000 đồng. Quá trình sử dụng thẻ tín dụng, ông Đặng Văn Đ không thanh toán đầy đủ cho Ngân hàng, ông thực hiện đợt thanh toán cuối cùng vào ngày 20/6/2023 nên ngày 07/8/2023 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Do đó, ngày 09/11/2023, Ngân hàng TMCP X khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Đặng Văn Đ phải trả cho Ngân hàng số tiền là 32.634.527 đồng cùng tiền lãi quá hạn phát sinh theo mức lãi suất nợ quá hạn do các bên thỏa thuận và phải chịu mọi chi phí phát sinh trong quá Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế trình giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
[3] Tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay, Ngân hàng TMCP X yêu cầu Tòa án buộc ông Đặng Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền là 39.693.716 đồng tính đến ngày 30/7/2024 ( Trong đó nợ gốc: 29.158.271 đồng, lãi quá hạn 10.535.445 đồng). Việc nguyên đơn thay đổi yêu cầu khởi kiện về phần lãi như trên là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu.
[4] Đối với bị đơn – ông Đặng Văn Đ: Từ khi Toà án thụ lý vụ án cho đến khi xét xử không có mặt theo giấy triệu tập; thông báo của Toà án, không có ý kiến đối với các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không tham gia các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, không tham gia các phiên hoà giải và cũng không tham gia phiên toà nên không có ý kiến lưu hồ sơ vụ án.
[5] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP X thì thấy: Căn cứ " Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế ngày 22/8/2019" của Ngân hàng phê duyệt cho ông Đặng Văn Đ hạn mức sử dụng thẻ tín dụng cũng như Bản tóm tắt sao kê thể hiện các lần giao dịch cũng như thanh toán của ông Đặng Văn Đ trong quá trình sử dụng thẻ tín dụng; Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định Ngân hàng TMCP X đã cấp thẻ tín dụng cho ông Đặng Văn Đ, hạn mức thẻ: 30.0000.000 đồng; lãi suất trong hạn thay đổi theo từng thời kì; lãi suất quá hạn bằng 150% của lãi suất trong hạn. Tính đến ngày 30/7/2024, ông Đặng Văn Đ còn nợ Ngân hàng số tiền là 39.693.716 đồng (Trong đó nợ gốc: 29.158.271 đồng, lãi quá hạn 10.535.445 đồng). Đây là Hợp đồng tín dụng, có nội dung và hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên khi ông Đ vi phạm nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng có quyền khởi kiện. Như vậy, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận; cần buộc ông Đ phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ của bên vay đối với số tiền còn nợ như trên cho Ngân hàng theo quy định tại Điều 463, khoản 1, khoản 5 Điều 466 Bộ luật dân sự và các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010.
[6] Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn – ông Đặng Văn Đ phải chịu án phí dân sự sơ thẩm: 39.693.716 đồng x 5% ~ 1.984.686 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 26, 35, 39, 63, 147, 180, 227, 228, 235, 266 Bộ luật tố tụng dân sự 2015;
Căn cứ Điều 463 và khoản 1, 5 Điều 466 Bộ luật dân sự; các Điều 91, 98 Luật các Tổ chức tín dụng 2010;
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện v/v "Tranh chấp Hợp đồng tín dụng" của Ngân hàng TMCP X đối với ông Đặng Văn Đ.
Buộc ông Đặng Văn Đ phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP X số tiền là 39.693.716 đ (Ba mươi chín triệu sáu trăm chín mươi ba ngàn bảy trăm mười sáu đồng), bao gồm: Nợ gốc: 29.158.271 đồng, lãi quá hạn 10.535.445 đồng tính đến ngày 30/7/2024.
Kể từ ngày 31/7/2024 mà bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ của mình thì số tiền lãi tiếp tục phát sinh cho đến ngày thanh toán hết mọi khoản nợ với mức lãi suất theo " Giấy đề nghị phát hành kiêm hợp đồng sử dụng thẻ quốc tế ngày 22/8/2019" của Ngân hàng TMCP X.
2. Án phí và chi phí tố tụng khác:
- Án phí Dân sự sơ thẩm: 1.984.686đ (Một triệu chín trăm tám mươi bốn ngàn sáu trăm tám mươi sáu đồng), ông Đặng Văn Đ phải chịu.
Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP X số tiền tạm ứng án phí 815.863đ (Tám trăm mười lăm ngàn tám trăm sáu mươi ba đồng) đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hải Châu, TP Đà Nẵng theo biên lai thu số 0000053 ngày 28/11/2023.
3. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm hôm nay. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết công khai.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Thị Ngọc Hà |
Bản án số 66/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU- TP. ĐÀ NẴNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 66/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU- TP. ĐÀ NẴNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
