|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Trần Thị Chọn |
| Các Hội thẩm nhân dân: | Bà Nguyễn Hồng Xứng |
| Bà Trần Thị Ngọc Trân |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tiên – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa:
Thuộc trường hợp Viện kiểm sát không tham gia.
Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2024/HNGĐST ngày 08 tháng 4 năm 2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 5 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thúy C, sinh năm 1986
Địa chỉ: ấp A, xã V, huyện G, tỉnh Kiên Giang
- Bị đơn: Ông LIN, WEN-HSIN, sinh năm 1983
Địa chỉ: 4, L, Khóm A, phường N, khu L, thành phố C, Đài Loan.
(Bà C và ông H đều có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện và bản tự khai ngày 16/4/2024 bà Nguyễn Thị Thúy C trình bày yêu cầu khởi kiện như sau:
Năm 2022, bà C qua Đài Loan lao động có quen biết ông L, WEN-HSIN, sau khi tìm hiểu có nảy sinh tình cảm. Tháng 10/2022 bà C và ông L, WEN-HSIN về Việt Nam tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán tại Việt Nam, sau đó đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang ngày 13/12/2022. Sau khi kết hôn ông L, WEN-HSIN về Đài Loan làm việc và làm thủ tục bão lãnh bà C sang Đài Loan đoàn tụ, bà C ở lại Việt Nam học ngôn ngữ Đài Loan và chờ ngày phỏng vấn. Nhưng thủ tục bảo lãnh không thành nên bà Chân K sang Đài Loan đoàn tụ được. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc nhau qua điện thoại, nhưng sau đó thưa dần do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về ngôn ngữ, khoảng cách địa lý xa mỗi người sống một nơi nên không có cơ hội vung đắp tình cảm, thời gian chung sống ngắn, tình cảm vợ chồng phai nhạt, chị nhận thấy không thể hàn gắn mối quan hệ tình cảm vợ chồng, chị yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang giải quyết cho ly hôn với ông L, WEN-HSIN. Về con chung, tài sản và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.
- Bị đơn ông L, WEN-HSIN có ý kiến trình bày trong văn bản đồng ý ly hôn ngày 28/02/2024: Về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và nợ đúng như Nguyễn Thị Thúy C trình bày. Với yêu cầu của bà Thúy C, ông L, WEN-HSIN cũng đồng ý và không có ý kiến gì khác, yêu cầu giải quyết vắng mặt ông.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy C và bị đơn LIN, WEN-HSIN đều có đơn xin vắng mặt tại phiên tòa hợp lệ. Căn cứ Điều 228, Điều 238, Điều 477 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử thống nhất xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thúy C và ông L, WEN-HSIN là hôn nhân hợp pháp, thực hiện đầy đủ các điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và gia đình, đã được Ủy ban nhân dân huyện G, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 32 ngày 13/12/2022.
Về nguyên nhân ly hôn ông bà đều xác định, sau khi kết hôn ông L, WEN-HSIN về Đài Loan làm việc và làm thủ tục bão lãnh bà C sang Đài Loan đoàn tụ, bà C ở lại Việt Nam học ngôn ngữ Đài Loan và chờ ngày phỏng vấn. Nhưng thủ tục bảo lãnh không thành nên bà Chân K sang Đài Loan đoàn tụ được. Thời gian đầu vợ chồng còn liên lạc nhau qua điện thoại, nhưng sau đó thưa dần do vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do khác biệt về ngôn ngữ, khoảng cách địa lý xa mỗi người sống một nơi nên không có cơ hội vung đắp tình cảm, thời gian chung sống ngắn, tình cảm vợ chồng phai nhạt. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông bà đều có ý kiến gửi đến tòa án thống nhất ly hôn.
Hội đồng xét xử, xét thấy quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Thúy C và ông L, WEN-HSIN hai bên đã không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc, chia sẻ giúp đỡ lẫn nhau để xây dựng gia đình hạnh phúc. Sau khi cưới nhau năm 2022 ông bà sống mỗi người một nơi, ông L, WEN-HSIN ở nước ngoài còn bà C sinh sống tại Việt Nam, ông bà có những bất đồng về ngôn ngữ, khoản cách địa lý. Hiện tại bà Thúy C xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông L, WEN-HSIN.
Như vậy, cho thấy đời sống chung vợ chồng của ông bà không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó qua thảo luận nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Nguyễn Thị Thúy C đối với ông L, WEN-HSIN.
Về con, tài sản và nợ chung: Ông bà đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
[3] Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị Thúy C phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 28, khoản 1 Điều 37, khoản 4 Điều 147, Điều 153, Điều 228, Điều 238, điểm d khoản 1 Điều 469, điểm a khoản 5 Điều 477, Điều 479 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thúy C.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thúy C được ly hôn với ông L, WEN-HSIN.
- Về con, tài sản và nợ chung: Các đương sự đều xác định không có, không yêu cầu giải quyết nên không xem xét.
- Án phí sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị Thúy C có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0007815 ngày 28/3/2024 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang.
- Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và điều 9 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Chọn |
Bản án số 38/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về ly hôn
- Số bản án: 38/2024/QĐXXST-HNGĐ
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: CH-H
