Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CAO BẰNG

TỈNH CAO BẰNG

Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày: 24/4/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

————————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Xuân Huy

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đinh Văn Hải

2. Ông Nguyễn Thanh Vũ

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Ngọc Hà – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Long - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến giữa điểm cầu trung tâm là Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng và điểm cầu thành phần là Nhà tạm giữ Công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 03 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đối với bị cáo:

Vương Văn H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 05/10/1999 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: X, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12 phổ thông; Con ông: Vương Văn N (đã chết năm 2017); Con bà: Dương Thị C, sinh năm 1975, trú tại: X, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng; A, chị, em ruột: bị cáo là con út trong gia đình có 02 chị em; Vợ: Phạm Thị H1 (Sinh năm 1999) - Trú tại: X, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng, Con: bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021;

Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn tạm giữ, tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố C từ ngày 23/12/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị T - trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh C. (có mặt tại phiên tòa)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Bà Dương Thị C - sinh năm 1975

Địa chỉ: X, xã K, huyện T, tỉnh Cao Bằng. ( Có mặt tại phiên tòa)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 13h40' ngày 23/12/2023 tại xóm B, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Vương Văn H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, vật chứng thu giữ: 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột được thu giữ trong túi áo khác phía trước bên trái chiếc áo bị cáo đang mặc (bị cáo khai nhận là H2); 01 (một) xe mô tô màu đen, nhãn hiệu Honda Future neo biển kiểm soát 11F7 - 8137, xe cũ đã qua sử dụng.

Bị cáo khai nhận số ma túy trên bị cáo mua với Mã Văn B (sinh năm 1972, địa chỉ: Xóm A, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) với số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) được 01 gói ma túy như trên. Sau khi mua được ma túy bị cáo điều khiển xe mô tô đi tìm chỗ sử dụng thì bị bắt quả tang.

Mở rộng điều tra hồi 14 giờ 50 phút ngày 23/12/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra công an thành phố C đã khám xét người và chỗ ở của Mã Văn B nhưng không thu giữ được tài liệu, đồ vật gì liên quan đến ma túy.

Hồi 19h25 ngày 23/12/2023, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C tiến hành cân khối lượng tang vật đã thu giữ xác định được: 01 (một) gói giấy bạc màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục lẫn bột có khối lượng 0,13g (không phẩy mười ba gam).

Ngày 24/12/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C ra Quyết định trưng cầu giám định số 420 đối với vật chứng của vụ án. Tại Kết luận giám định số 36/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: Mẫu chất chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định là ma túy, loại: Heroine (Heroin).

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 12h30 ngày 23/12/2023, Vương Văn H điều khiển xe máy từ nhà nhà mình đến nhà Mã Văn B tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Khi đến nhà Mã Văn B bị cáo hỏi mua ma túy với B thì B đồng ý và đưa cho bị cáo một gói nhỏ giấy bạc bên trong có chứa ma túy. Bị cáo nhận lấy gói ma túy rồi đưa cho B 500.000 đồng (gồm 02 tờ 200.000 đồng và 01 tờ 100.000 đồng). Sau khi nhận được ma túy, bị cáo điều khiển xe đến khu vực đường vào mỏ đá Khưa Vặn thuộc xóm B xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng để tìm chỗ sử dụng thì bị Công an thành phố C bắt quả tang, thu giữ vật chứng như đã nêu ở trên.

Số ma túy bị phát hiện thu giữ, Vương Văn H khai nhận mua về nhằm mục đích sử dụng cho bản thân, ngoài ra không có mục đích nào khác.

Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố C lập hồ sơ đề nghị truy tố trước pháp luật về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại bản Cáo trạng số: 66/CT-VKSTP ngày 29/3/2024 Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo Vương Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy của mình đúng như bản Cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với khối lượng ma túy bị thu giữ và nội dung bản kết luận giám định số: 36/KL-KTHS ngày 29/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh C. Bị cáo khai nhận do bản thân sử dụng ma túy nên ngày 23/12/2023 bị cáo đã tìm mua ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân ngoài ra bị cáo không có mục đích nào khác. Chiếc xe mô tô màu đen, nhãn hiệu Honda Future neo biển kiểm soát 11F7 - 8137, xe cũ đã qua sử dụng là xe của bà C (mẹ của bị cáo), khi lấy chiếc xe để đi mua ma túy thì mẹ của bị cáo không biết. Tại phiên tòa bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và miễn nộp tiền án phí cho bị cáo, đồng thời bị cáo bày tỏ thái độ ăn năn hối hận về hành vi vi phạm pháp luật của bản thân.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Dương Thị C có mặt tại phiên tòa, lời khai của bà C liên quan đến chiếc xe mô tô màu đen, nhãn hiệu Honda Future neo biển kiểm soát 11F7 - 8137, xe cũ đã qua sử dụng, phù hợp với lời khai của bị cáo, quá trình điều tra xác định được chiếc xe trên là tài sản của bà C, được bà C mua lại với người khác. Khi bị cáo lấy chiếc xe trên đi mua ma túy thì bà C không được biết. Tại phiên tòa bà C đề nghị Hội đồng xét xử trả lại chiếc xe trên cho bà, ngoài ra bà không có yêu cầu gì đối với bị cáo.

Trong quá trình điều tra bà Hoàng Thị B1 (sinh năm 1961, địa chỉ: Hồ N, xã H, thành phố C, tỉnh Cao Bằng) là người đứng tên đăng ký xe mô tô biển kiểm soát 11F7 - 8137 xác nhận chiếc xe trên trước kia được bà mua và đăng ký với tên của bà, tuy nhiên bà đã bán cho người khác từ lâu, hiện nay bà không liên quan đến chiếc xe nữa và không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo.

Đối với bị cáo Vương Văn H, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) tuyên bố bị cáo Vương Văn H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đề nghị xử phạt bị cáo Vương Văn H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Số 36/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Vương Văn H có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy, bắt ngày 23/12/2023” (Kèm theo Kết luận giám định số: 36/KL-KTHS, ngày 29/12/2023 của Phòng kỹ thuật Công an tỉnh C).

- Hoàn trả lại cho bà Dương Thị C:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future neo màu đen, biển kiểm soát 11F7-8137, xe cũ đã qua sử dụng.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần trình bày luận cứ bào chữa cho bị cáo trợ giúp viên pháp lý nhất trí về tội danh đối với bị cáo như đề nghị của kiểm sát viên, tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, có trình độ văn hóa hạn chế (học vấn 08/12), sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn do vậy ảnh hưởng nhiều đến nhân thức của bị cáo. Trong quá trình điều tra bị cáo thành khẩn khai báo do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), bị cáo tàng trữ ma túy với khối lượng không lớn (0,13g) căn cứ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo được hưởng mức hình phạt là 12 tháng tù. Ngoài ra bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí và bị cáo đã có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị Hội đồng xét xử miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về tội danh và hình phạt đề nghị của người bào chữa phù hợp với lời luận tội, do vậy kiểm sát viên không có ý kiến gì đối đáp tranh luận. Đối với yêu cầu xin miễn tiền án phí xét thấy bị cáo thuộc trường hợp được miễn án phí và bị cáo đã có đơn xin miễn án phí do vậy đề nghị Hội đồng xét xử xem xét theo quy định của pháp luật.

Tại phần tranh luận, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng.

Khi được nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm quay trở về với gia đình và cộng đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra công an thành phố C, tỉnh Cao Bằng; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về tội danh:

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Vương Văn H đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với nội dung biên bản bắt người phạm tội quả tang, bản kết luận giám định, vật chứng cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.

Do vậy, Hội đồng xét xử đã có đủ cơ sở xác định được: Hồi 13h20' ngày 23/12/2023, tại khu vực Xóm B, xã C, thành phố C, tỉnh Cao Bằng, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an thành phố C bắt quả tang Vương Văn H có hành vi tàng trữ trái phép 0,13g (không phẩy mười ba gam) ma túy loại Heroine nhằm mục đích sử dụng cho bản thân.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước đối với các chất gây nghiện, gây mất trật tự trị an, an toàn xã hội và còn là nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được tác hại nhiều mặt của ma túy nhưng vẫn thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3]. Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Về nhân thân: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự, nhưng bị cáo nghiện ma túy nên được coi là người có nhân thân xấu.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo hành về vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự .

[4]. Về hình phạt chính: Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Vương Văn H từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù. Hội đồng xét xử xét thấy mức đề nghị hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo là hoàn toàn phù hợp bởi bị cáo là đối tượng nghiện ma túy (heroine), không thể tự cải tạo, cần thiết phải cách ly ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới đủ để cải tạo giáo dục riêng cũng như phòng ngừa chung trong xã hội. Căn cứ vào khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ là không lớn, đặc điểm nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy áp dụng mức hình phạt khởi điểm theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cao Bằng là đủ sức răn đe đối với bị cáo và phù hợp với quy định của pháp luật.

[5]. Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự năm 2015 còn quy định bị cáo còn có thể bị phạt tiền. Xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về xử lý vật chứng:

Đối với vật chứng của vụ án là ma túy bị thu giữ cần tịch thu, tiêu hủy.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Future neo, màu đen biển kiểm soát 11F7 - 8137, xe cũ đã qua sử dụng, xét thấy quá trình điều tra xác định được chiếc xe là tài sản của bà Dương Thị C, khi bị cáo lấy chiếc xe đi mua ma túy thì bà C không biết, không liên quan đến hành vi phạm tội do vậy cần hoàn trả lại chiếc xe cho bà Dương Thị C.

[7]. Về các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, bị cáo khai mua với Mã Văn B, việc trao đổi mua bán không có ai biết và chứng kiến, quá trình điều tra Mã Văn B không thừa nhận được bán ma túy cho bị cáo và không có tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Mã Văn B. Do vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố C không có đủ căn cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[8]. Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn do vậy thuộc trường hợp được miễn nộp tiền án phí.

[9]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Vương Văn H phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Căn cứ: điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Vương Văn H 12 (mười hai) tháng tù. Thời gian chấp hành án phạt tù được tính kể từ ngày 23/12/2023.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự xử:

- Tịch thu, tiêu hủy:

+ 01 (một) phong bì niêm phong, mặt trước ghi: "Số 36/KL-KTHS. Hoàn mẫu sau giám định vụ Vương Văn H Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Kèm theo Kết luận giám định số: 36/KL-KTHS, ngày 29/12/2023 của Phòng K, Công an tỉnh C).

- Hoàn trả lại cho bà Dương Thị C:

+ 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Future neo màu đen, biển kiểm soát 11F7-8137. Số khung RLHJC350X7Y411584, số máy: JC35E0623055, xe cũ đã qua sử dụng.

Xác nhận số vật chứng này hiện nay đang nằm tại kho tang vật của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cao Bằng, tỉnh Cao Bằng theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 92 ngày 02/4/2024.

3. Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

Bị cáo Vương Văn H được miễn án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 332, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án tỉnh Cao Bằng;
  • - Công an tỉnh Cao Bằng;
  • - Viện kiểm sát tỉnh Cao Bằng;
  • - Sở tư pháp;
  • - Viện kiểm sát TP Cao Bằng;
  • - Công an TP Cao Bằng;
  • - Thi hành án DS TP Cao Bằng;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu án văn

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lý Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 24/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 24/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAO BẰNG - TỈNH CAO BẰNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vương Văn Huynh - Tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger