|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 66/2024/HNGĐ – ST
Ngày: 20/9/2024
V/v “Ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Quyết
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Lâm Mây
- Ông Điểu Lành
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Như Mai Trang - Kiểm sát viên.
Ngày 20 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 219/2024/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 26 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 50/2024/QĐHPT ngày 12/9/2024, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Bà Vũ Thị Anh T, sinh năm 1986.
Địa chỉ: Ấp I, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
* Bị đơn: Ông Trần Viết T1, sinh năm 1985.
Nơi cư trú: Ấp E, xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên đơn bà Vũ Thị Anh T trình bày:
+ Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông Trần Viết T1 tự nguyện sống chung với nhau từ năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Trước khi sống chung có tìm hiểu nhau trong khoảng thời gian 01 năm. Sau khi sống chung vợ chồng sống tại xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước.
Vợ chồng sống hạnh phúc đến tháng 2015 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do tính tình không hợp, bất đồng quan điểm sống, cuộc sống không hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay.
Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa nên bà T xin được ly hôn với ông Trần Viết T1.
+ Về con chung: Bà T và ông T1 có hai người con chung tên Trần Viết T2, sinh ngày 28/6/2008 và Trần Viết T3, sinh ngày 15/9/2014.
Hiện nay con tên T3 đang chung sống với bà T tại xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước, con tên T2 đang sống với ông T1 tại xã L.
Khi ly hôn bà T xin được nuôi hai người con chung.
+ Về cấp dưỡng nuôi con: Khi ly hôn bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Ngoài ra bà T không nhận ai làm con nuôi và hiện nay bà T không mang thai.
+ Về tài sản chung: Vợ chồng bà T khẳng định vợ chồng không có tài sản chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
+ Về nợ chung: Vợ chồng bà T khẳng định vợ chồng không nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Bị đơn ông Trần Viết T1 vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án mà không có lý do. Biết việc Tòa án thụ lý vụ việc ly hôn nhưng không gửi văn bản trình bày ý kiến cho Tòa án, cũng không lên Tòa án để làm việc.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh phát biểu ý kiến:
- Việc chấp hành pháp luật tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Việc xác định quan hệ tranh chấp, thẩm quyền giải quyết, thực hiện thủ tục cấp tống đạt các văn bản tố tụng, thu thập chứng cứ, mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, chuyển hồ sơ cho Viện kiểm sát, thành phần tham gia xét xử được thực hiện theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh không có kiến nghị gì về tố tụng.
- Về nội dung: Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Vũ Thị Anh T.
+ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Vũ Thị Anh T được ly hôn với ông Trần Viết T1.
+ Về con chung: Bà Vũ Thị Anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục hai người con chung tên là Trần Viết T2, sinh ngày 28/6/2008 và Trần Viết T3, sinh ngày 15/9/2014.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông T1 cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét giải quyết.
+ Về tài sản chung: Bà T khẳng định không có tài sản chung nên không xem xét.
+ Về nợ chung: Bà T khẳng định không có nợ chung nên không xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định.
[1] Về tố tụng:
Nguyên đơn bà Vũ Thị Anh T có đơn khởi kiện ly hôn với ông Trần Viết T1 tại Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh để giải quyết theo thẩm quyền. Xét thấy ông Trần Viết T1 có nơi cư trú tại huyện L, tỉnh Bình Phước nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn có đơn xin vắng mặt trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà Vũ Thị Anh T nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án. Căn cứ Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung vụ án:
Bà Vũ Thị Anh T và ông Trần Viết T1 tự nguyện sống chung với nhau và có đăng ký kết hôn với nhau tại Ủy ban nhân dân xã L, huyện L, tỉnh Bình Phước. Như vậy, hôn nhân giữa bà T và ông T1 là hợp pháp.
Theo đơn khởi kiện thì bà Vũ Thị Anh T cho rằng vợ chồng sống không hạnh phúc, phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm và đã sống ly thân từ năm 2019 đến nay. Nay nhận thấy vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mâu thuẫn đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà T xin được ly hôn với ông T1.
Trong quá trình giải quyết, ông Trần Viết T1 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, biết được Tòa án đang thụ lý và giải quyết ly hôn theo đơn khởi kiện của bà T nhưng vẫn vắng mặt trong suốt quá trình Tòa án giải quyết vụ án mà không có lý do và cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án.
Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa bà Vũ Thị Anh T và ông Trần Viết T1 đã trầm trọng, cuộc sống không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được; Căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử quyết định cho bà Vũ Thị Anh T được ly hôn với ông Trần Viết T1.
+ Về con chung: Bà T và ông T1 có hai con chung tên Trần Viết T2, sinh ngày 28/6/2008 và Trần Viết T3, sinh ngày 15/9/2014. Bà T yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cả hai người con chung. Mặt khác, cả hai người con chung tên T2 và T3 đều có nguyện vọng được ở với bà T. Vì vậy, để đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp chính đáng và đảm bảo cho sự phát triển toàn diện về thể chất cũng như tinh thần cho 02 con chung thì cần giao hai người con chung cho bà Vũ Thị Anh T trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục là phù hợp.
+ Về yêu cầu cấp dưỡng: Bà T không yêu cầu ông T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
+ Về tài sản chung: Bà T khẳng định vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
+ Về nợ chung: Bà T khẳng định không có nợ ai và không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[3] Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn không phụ thuộc vào việc Tòa án chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Như vậy, bà T phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng).
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát huyện Lộc Ninh là phù hợp nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào:
- Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
- Điều 39 Bộ luật dân sự;
- Điều 19, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, 84, 85, 86 và 87 Luật hôn nhân gia đình;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Vũ Thị Anh T.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Vũ Thị Anh T được ly hôn với ông Trần Viết T1.
2/ Về con chung: Bà Vũ Thị Anh T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục hai người con chung tên là Trần Viết T2, sinh ngày 28/6/2008 và Trần Viết T3, sinh ngày 15/9/2014.
3/ Về cấp dưỡng nuôi con: Bà Vũ Thị Anh T không yêu cầu ông Trần Viết T1 phải cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
4/ Về tài sản chung: Bà Vũ Thị Anh T khẳng định vợ chồng không có tài sản chung và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
5/ Về nợ chung: Bà Vũ Thị Anh T khẳng định vợ chồng không có nợ ai, không ai nợ lại vợ chồng và không yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
6/ Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Bà T phải chịu số tiền án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000đồng tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước theo biên lai thu tiền số: 0006376 ngày 24/6/2024.
7/ Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Văn Quyết |
Bản án số 66/2024/HNGĐ – ST ngày 20/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC về ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 66/2024/HNGĐ – ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: cho bà t ly hôn với ông t1
