Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc


Bản án số: 66/2024/HS-ST

Ngày 19-9-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lương Thị Ái

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đặng Thị Ngọc

Ông Vang Thanh Hải

Thư ký phiên tòa: Bà Vy Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Đinh Ngọc Quang - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 54/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 8 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 68/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lô Văn D, tên gọi khác: Không có; sinh ngày 11 tháng 8 năm 1990 tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi Đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Bản Côi, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 10/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lô Hoài V và con bà Trần Thị Đ; vợ: Vi Thị M (Đã ly hôn), con: có 04 con; Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 18 tháng 5 năm 2024 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Ông Lê Công T – Trợ giúp viên pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh N. Có mặt

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Lô Thị T1, sinh năm 1989. Trú tại: Bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt

Người chứng kiến: Anh Vi Văn C. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng giữa năm 2022, khi đi làm rẫy của gia đình mình ở bản C, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lô Văn D (Sinh năm 1990, trú tại Bản C, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An) gặp một người đàn ông nói giọng dân tộc Mông (không rõ lai lịch, địa chỉ). D thấy người đó mang theo 01 khẩu súng, nghĩ là súng săn nên D hỏi mua. Qua giao dịch, D mua của người này 01 khẩu súng và 12 viên đạn với giá 2.000.000 đồng. Sau đó, D đưa khẩu súng và số đạn nêu trên về cất giấu trong tủ gỗ ở phòng khách nhà chị Lô Thị T1 (Sinh năm 1989, là người sống chung như vợ chông với D) ở bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An để sau này sử dụng vào việc săn bắn thú rừng.

Vào khoảng 12 giờ ngày 18/5/2024, D đang ở nhà chị T1 thì lên cơn nghiện chất ma tuý. D đi ra đường đón xe lai (xe ôm) của một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) đi đến bản Đ, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An tìm mua ma tuý để về sử dụng. Khi đến nơi, D nói người đi xe lai đứng chờ, còn D đi bộ lên đồi tìm mua ma tuý. Sau khi đi bộ trên đồi thuộc bản Đửa, xã L, huyện T khoảng 20 phút, D gặp một người đàn ông (không rõ lai lịch, địa chỉ) và hỏi: “Có ma tuý bán không?”. Người đó nói: “Có”. D nói: “Bán cho em một triệu hồng phiến và một ít Heroine”, đồng thời lấy trong túi áo mà D đang mặc ra số tiền 1.000.000 đồng đưa cho người đàn ông đó. Người đàn ông cầm tiền rồi lấy từ trong túi áo đang mặc ra đưa cho D 01 gói polytylen màu vàng chứa các viên hồng phiến và 01 gói giấy vở học sinh chứa ma tuý Heroine. Sau đó, D cất giấu ma tuý trong người rồi quay lại gặp người đi xe lại và đi về nhà chị T1. Vào hồi 15 giờ ngày 18/5/2024, khi D đang ở nhà chị T1 thì bị tổ công tác thuộc Công an huyện T kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra, do hoảng sợ nên D tự nguyện lấy ma tuý cất giấu trong túi quần đùi bên phải đang mặc, lấy 01 khẩu súng và 12 viên đạn cất giấu trong tủ gỗ ở phòng khách nhà chị T1 ra giao nộp cho tổ công tác. Tổ công tác thu giữ: 01 gói polytylen màu vàng chứa các viên nén màu hồng, nghi là ma tuý hồng phiến; 01 gói giấy vở học sinh chứa chất bột màu trắng (nghi là ma túy Heroine); 01 khẩu súng và 12 viên đạn (nghi vũ khí quân dụng). Người cùng tang vật được đưa về trụ sở Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. (Chị T1 không biết việc D cất giấu ma tuý, 01 khẩu súng và 12 viên đạn nêu trên).

Tại các Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại ngày 18/5/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và tại Bản kết luận giám định số 544/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 24/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

"Mẫu viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn D1 gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine. Số viên nén màu hồng thu giữ của Lô Văn D có tổng khối lượng là 3,85 g (ba phẩy tám mươi lăm gam). Mẫu chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn D gửi đến giám định là ma túy; loại Heroine (H), có tên khoa học là D2, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Số chất bột màu trắng thu giữ của Lô Văn D có khối lượng là 0,19 g (không phẩy mười chín gam).”.

Tại Bản kết luận giám định số 13/KL-KTHS(Đ3-SĐ) ngày 23/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

"01 (một) khẩu súng thu giữ của Lô Văn D gửi đến giám định là súng Carbine bắn đạn cỡ 7,62x33mm – thuộc vũ khí quân dụng. Hiện tại súng còn sử dụng để bắn được. 12 (mười hai) viên đạn thu giữ của Lô Văn D gửi đến giám định là đạn cỡ 7,62x33mm – thuộc vũ khí quân dụng. Loại đạn này sử dụng được cho khẩu súng thu giữ của Lô Văn D gửi đến giám định.".

Bản Cáo trạng số 165/CT-VKS-P1 ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đã truy tố Lô Văn D về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố của Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • + Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lô Văn D mức án từ 03 năm 10 tháng đến 04 năm 02 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;
  • + Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo: Lô Văn D mức án từ 01 năm 02 tháng đến 01 năm 06 tháng tù, về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”;
  • Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là 05 năm đến 05 năm 08 tháng.
  • Miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo; xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án.

Người bào chữa không có ý kiến tranh luận với bản luận tội và đề xuất Hội đồng xét xử xem xét đến việc nhận thức pháp luật của bị cáo đang còn hạn chế, cư trú ở vùng sâu, vùng xa nên lượng mình ở mức thấp nhấp theo đề nghị của Kiểm sát viên đối với bị cáo, miễn án phí hình sự sơ thẩm và hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, không có ý kiến gì tranh luận bổ sung. Lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để nhanh chóng trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an huyện T, tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Lô Văn D đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến đã được công bố công khai tại phiên tòa, phù hợp với biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ. Vì vậy có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 15 giờ ngày 18/5/2024, tại nhà ở của chị Lô Thị T1 thuộc bản M, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An, Lô Văn D có hành vi tàng trữ trái phép 3,85 gam ma túy Methamphetamine và 0,19 gam ma túy Heroine, tổng khối lượng 02 chất ma túy là 4,04 gam mục đích để sử dụng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện và khối lượng vật chứng thu được đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Ngoài ra Lê Văn D3 còn tàng trữ 01 khẩu súng Carbine bắn đạn cỡ 7,62x33mm và 12 viên đạn cỡ 7,62x33mm thuộc vũ khí quân dụng thì bị công an huyện T phát hiện bắt quả tang. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã cấu thành tội: Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.

Như vậy quyết định truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Tính chất, mức độ hậu quả của vụ án: Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự đã cố ý thực hiện tội phạm nghiêm trọng, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, gây mất trật tự trị an tại địa phương và là một trong những nguyên nhân gây nên các tệ nạn xã hội và tội phạm. Ngoài ra hành vi phạm tội của bị cáo còn xâm phạm đến trật tự quản lý Nhà nước về vũ khí quân dụng, đe dọa đến trật tự an toàn công cộng, tính mạng, sức khỏe của người khác nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự đối với hành vi của bị cáo gây ra. Do vậy cần xét xử nghiêm để có tác dụng tuyên truyền, giáo dục ý thức pháp luật trong nhân dân và phục vụ tốt nhiệm vụ chính trị, giữ vững an ninh tại địa phương. Vì vậy việc cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian nhất định để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung là cần thiết.

[4] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo sau khi phạm tội đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình gây ra, mẹ đẻ và ông ngoại bị cáo là người có công với cách mạng nên Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo và lượng hình ở mức thấp nhất như lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.

[6] Hình phạt bổ sung: Kết quả xác minh tài sản của bị cáo chỉ đủ duy trì cuộc sống thiết yếu hàng ngày và không có tài sản nào được tạo lập từ việc phạm tội nên chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên, người bào chữa miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Đối với người đàn ông dân tộc Mông đã bán sung và đạn cho D3 và người đàn ông đã bán ma túy cho D3, do D3 không biết rõ lai lịch, địa chỉ của những người này nên cơ quan điều tra không có cơ sở để làm rõ.

Đối với chị Lô Thị T1 quá trình điều tra, chị T1 không biết việc Lô Văn D cất giấu súng, đạn tại nhà của mình và việc D cất giấu ma túy trong người nên Cơ quan điều tra không có cơ sở để xử lý.

[7] Xử lý vật chứng: 0,19g Heroine (đã lấy hết để đi giám định) và 3,85g Methamphetamine (Đã lấy 0,5g để đi giám định) là vật cấm lưu hành không có giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy; 01 khẩu súng Carbine và 12 viên đạn (đã lấy 04 viên để đi giám định) là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh N tiêu huỷ theo quy định của pháp luật.

[8] Án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, gia đình thuộc hộ nghèo nên Hội đồng xét xử chấp nhận lời đề nghị của Kiểm sát viên, Người bào chữa miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ điểm i khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn D 03 (Ba) năm 10 (Mười) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Căn cứ vào khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lô Văn D 01 (Một) năm 02 (Hai) tháng tù về tội. “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.

Căn cứ vào Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt cho cả hai tội là 05 (Năm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam ngày 18/5/2024.

[2] Xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

  • + Giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh N tiêu huỷ: 01 khẩu súng Carbine bắn đạn cỡ 7,62 x 33 mm và 12 viên đạn (đã lấy 04 viên để đi giám định) còn lại 08 viên đạn (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 18.6.2024 giữa cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh N và Kho 70, Phòng kỹ thuật, Bộ chỉ huy quân sự tỉnh N);
  • + Tiêu hủy vật chứng còn lại của vụ án (Đặc điểm và tình trạng vật chứng như trong biên bản giao nhận vật chứng ngày 22.8.2024 giữa cơ quan an ninh điều tra công an tỉnh N và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An);

[3] Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Lô Văn D.

[4] Quyền kháng cáo: Bị cáo, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án là ngày 19/9/2024.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND tỉnh NA;
  • - VKSND huyện Tương Dương;
  • - Công an huyện Tương Dương;
  • - UBND xã Lượng Minh;
  • - Bị cáo, Trại tạm giam;
  • - Người bào chữa;
  • - Bộ chỉ huy quân sự Nghệ An;
  • - Sở Tư Pháp tỉnh Nghệ An;
  • - Chi cục THADS huyện Tương Dương;
  • - Lưu: VP, hồ sơ vụ án

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lương Thị Ái

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 19/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN về tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng

  • Số bản án: 66/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TƯƠNG DƯƠNG - TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger