Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 66/2024/HSST

Ngày: 19/9/2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Chu Văn Nghĩa.

Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Minh – giáo viên nghỉ hưu và bà Đồng Thị Mây – Giáo viên.

Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Quang Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Thu - Kiểm sát viên.

Ngày 19/9/2024, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành mở phiên tòa công khai tại trụ sở để xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 57/2024/HSST ngày 01/8/2024; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2024/QĐXXST-HS ngày 22/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 46/2024/QĐST-HS ngày 05/9/2024 đối với bị cáo:

TRẦN TUẤN ANH, sinh ngày 24/12/2007.

Nơi cư trú: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nam. Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do. Bố: Trần Văn Đ, sinh năm 1972; Mẹ: Nguyễn Thị L, sinh năm 1981. Gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ 3. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Lê Thị Thu H – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh H.

Người đại diện hợp pháp cho bị cáo: Ông Trần Văn Đ, sinh năm 1972; địa chỉ: Thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương (Là bố đẻ của bị cáo).

* Bị hại: Anh Trần Minh T, sinh năm 2002. Địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương.

* Người làm chứng: Anh Phạm Văn Á, anh Mạc Trọng N, chị Đinh Thị Thu H1 và ông Trần Văn H2.

(Bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo; bị hại có mặt, người làm chứng Trần Văn H2 có mặt, những người làm chứng còn lại đều vắng mặt không có lý do)

1

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 40 phút ngày 02/3/2024, tại quán cắt tóc của anh Mạc Trọng N ở thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; trong lúc Trần Tuấn A, Trần Minh T, Phạm Văn Á cùng khoảng ba đến bốn người nam giới đang ngồi ở ghế chờ đến lượt cắt tóc thì T và Á nói chuyện với nhau về nội dung tán gái, Á bảo T: “Bây giờ tao đưa cho mày nick Facebook con này, mày tán con này trong vòng một tuần, mày tán được nó tao cho mày năm triệu...”, T nói: “Bây giờ năm triệu một tuần em không đủ đưa nó đi chơi cơ”. Sau đó, giữa T và Á xảy ra lời qua tiếng lại đôi co nhau, Á đứng dậy đi mấy bước đến chỗ T đang ngồi, T cũng đứng dậy. Thấy vậy, Tuấn A cũng đứng dậy đi đến bên cạnh T. Lúc này, Á dùng tay trái túm vào cổ áo phía trước T, tay phải tát vào mang tai bên trái T. Ngay lập tức, Tuấn A dùng tay trái túm vào cổ áo phía sau T, tay phải đấm vào vùng mặt bên phải T. Khi bị đánh, T cúi khom người lại thì bị Á và Tuấn A dùng tay tát, đấm nhiều cái vào vùng mặt, đầu, lưng và dùng chân thúc đầu gối vào vùng bụng. Sau đó, Tuấn A nhặt chiếc ghế gỗ của quán cắt tóc cầm ở tay trái đập 02 cái vào lưng và mạn sườn bên trái T rồi Á và Tuấn A không đánh T nữa (thời gian Á và Tuấn A đánh T diễn ra trong khoảng 08 giây). Do bức xúc việc bị Á và Tuấn A đánh, nên T cầm chiếc mũ bảo hiểm để ở gần đó đập 01 cái về phía đầu Á (chiếc mũ này T mượn của bố mình là ông Trần Văn H2), Á đưa hai tay ra trước mặt đỡ lại và tiếp tục cùng Tuấn A dùng tay, chân đánh T mấy cái. Lúc này, anh N và 01 người thanh niên có mặt tại quán can ngăn không cho Á, Tuấn A và T đánh nhau nữa. T chạy ra ngoài cửa quán nhặt nửa viên gạch, Tuấn A ở trong quán đứng giữ cánh cửa kính không cho T vào còn Á đứng lên chiếc ghế gỗ lấy 01 gậy bóng chày bằng kim loại của anh N để trên mi cửa quán cắt tóc cầm ở tay. T đứng phía ngoài cầm nửa viên gạch đập vào cửa kính, Á dùng gậy bóng chày đập vào cạnh cửa kính nhưng cửa kính không bị vỡ, sau đó được mọi người can ngăn. Á ngồi lại ở phòng cắt tóc, Tuấn A đi qua phòng cắt tóc và phòng gội đầu vào phòng ngủ nhà anh N ngồi chơi với con anh N. T vứt nửa viên gạch tại cửa quán rồi đi men theo phía ngoài quán cắt tóc về phía sau phòng ngủ của gia đình anh N. Trên đường đi, T nhìn thấy chiếc điếu cày bằng kim loại của anh N dựng ở sát tường, T nhặt chiếc điếu cày này chạy vào phòng ngủ của nhà anh N bằng lối cửa hậu phía sau quán cắt tóc thì thấy Tuấn A đang đứng cạnh giường, T cầm chiếc điếu cày vụt một cái vào mặt bên phải của Tuấn A làm Tuấn A bị vết xước dài 1,5cm bên trong môi dưới. Tuấn A liền lao vào ôm T vật ngã xuống giường. Khi Tuấn A và T đang ôm vật nhau thì chị Đinh Thị Thu H1 (là vợ của anh N) đi vào trong phòng ngủ giật chiếc điếu cày trên tay T; cùng lúc này, anh N và bố của anh N là ông Mạc Trọng T1 nhà ở bên cạnh quán cắt tóc vào can ngăn không cho Tuấn A và T đánh nhau nữa. Khi đó, Á đi về nhà, T đi ra ngồi ở phòng cắt tóc còn Tuấn A chạy ra ngoài cửa quán lấy xe máy mượn trước đó của chị gái là Trần Thị Thanh N1 đi về nhà lấy 01 thanh kiếm tự chế bằng kim loại dài khoảng

2

60cm được bọc trong vỏ gỗ do Tuấn A nhặt được trước đó rồi quay lại quán cắt tóc. Khoảng 17 giờ 50 phút cùng ngày, khi đến cửa quán, thấy T đang đứng trong quán, Tuấn A liền dùng tay phải rút thanh kiếm ra khỏi vỏ, tay trái cầm vỏ kiếm chạy về phía T. Thấy vậy, T bỏ chạy vào phía trong quán cắt tóc, qua phòng gội đầu đến phòng ngủ thì không mở được cửa do cửa khóa. Tuấn A chạy đuổi theo đến, tay phải cầm kiếm giơ ngang vai chém 01 nhát theo hướng từ ngang vai xuống dưới, từ phải qua trái, mục đích chém vào vùng lưng của T, đúng lúc này, T ngồi xuống dùng hai tay ôm đầu nên bị Tuấn A chém trúng vào ngón 2, 3 bàn tay phải và đỉnh chẩm trái của T. Sau đó, Tuấn A đem theo kiếm tự chế đi về nhà còn T được gia đình đưa đi điều trị thương tích tại Bệnh viện Q - Cục H3 từ ngày 02/3/2024 đến ngày 11/3/2024 và theo hẹn vào Bệnh viện Q tháo bỏ phương tiện kết hợp xương từ ngày 20/5/2024 đến ngày 27/5/2024.

Tại bệnh án ngoại khoa số 398 của Bệnh viên Quân y 7 thể hiện: Anh Trần Minh T bị vết thương rách da vùng đỉnh chẩm trái kích thước 05cm x 02cm, bờ mép gọn, chảy máu nhiều, ít dị vật; đốt 1 ngón 2, đốt 2 ngón 3 bàn tay phải có vết thương kích thước lần lượt là 03cm x 01cm và 02cm x 01cm, chảy máu, lộ đầu xương gẫy, đứt gân duỗi ngón 2, 3 bàn tay phải; vỡ bản ngoài xương đỉnh trái.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 289/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 16/4/2024 của Trung tâm P đối với Trần Minh T kết luận: Các kết quả chính: Sẹo vết thương vùng đỉnh chẩm trái và vết thương liền vết phẫu thuật mặt sau đốt 1,2 ngón II bàn tay phải kích thước lớn; Sẹo vết thương liền vết phẫu thuật mặt sau đốt 2 ngón III bàn tay phải kích thước trung bình; Tổn thương mẻ xương đỉnh trái dài 2,9cm; Tổn thương gãy xương đốt 2 ngón II và ngón III tay phải; Tổn thương đứt gân duỗi ngón II, III bàn tay phải đã được khâu nối, còn cứng khớp đốt 1 - 2; đốt 2 - 3 ngón II và III bàn tay phải do còn phương tiện kết hợp xương. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Minh T tại thời điểm giám định là 15%. Tổn thương đứt gân duỗi ngón II, III bàn tay phải đã được khâu nối, còn cứng khớp đốt 1, 2; đốt 2, 3 ngón II, III bàn tay phải do còn phương tiện kết hợp xương nên chưa có căn cứ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Khi nào tháo phương tiện kết hợp xương đề nghị cơ quan Cảnh sát điều tra cho giám định bổ sung sau. Các thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản Kết luận giám định bổ sung tổn thương cơ thể trên người sống số 448/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 14/6/2024 của Trung tâm P đối với Trần Minh T kết luận: Các kết quả chính: Tổn thương đứt gân duỗi ngón II, III bàn tay phải đã khâu nối, hiện tại còn cứng hoàn toàn khớp đốt 1, 2 ngón II bàn tay phải, hạn chế động tác gấp các đốt của các ngón II, III bàn tay phải. Đã phẫu thuật tháo phương tiện kết hợp xương đốt 1, 2, 3 ngón II, III bàn tay phải. Căn cứ Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ trưởng Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám

3

định pháp y, giám định pháp y tâm thần xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Minh T tại thời điểm giám định là 18%, áp dụng phương pháp cộng tại Thông tư, trong đó: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương đứt gân duỗi ngón II bàn tay phải đã khấu nối, hiện tại còn cứng hoàn toàn khớp đốt 1, 2 ngón II bàn tay phải gây nên là 4%; Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 289/2024/KLTTCT-TTPYHP của Trung tâm P kết luận tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Minh T tại thời điểm giám định là 15%. Tổn thương đứt gân duỗi ngón II, III bàn tay phải đã khâu nối, còn hạn chế động tác gấp các đốt của ngón II, III bàn tay phải, không gây cứng khớp nên chỉ tính tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương mềm.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 282/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 08/4/2024 của Trung tâm P đối với Phạm Văn Á kết luận: Nạn nhân bị sang chấn gây sưng đau phần mềm vùng thái dương trái, không gây tổn thương thực thể ở sọ não, hiện đã khỏi, không còn để lại dấu vết. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Phạm Văn Á tại thời điểm giám định là: 0%. Thương tích trên có đặc điểm do vật tày, có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 283/2024/KLTTCT-TTPYHP ngày 08/4/2024 của Trung tâm P đối với Trần Tuấn A kết luận: nạn nhân bị sang chấn gây xây xước niêm mạc môi dưới, không gây tổn thương răng, không tổn thương xương hàm mặt, hiện không để lại sẹo, không còn dấu vết thương tích. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Tuấn A tại thời điểm giám định là: 0%. Thương tích trên có đặc điểm do vật tày, có thể có góc cạnh cứng tác động trực tiếp gây nên.

Quá trình điều tra Trần Tuấn A thừa nhận hành vi phạm tội.

Đối với thanh kiếm tự chế bằng kim loại, sau khi sử dụng gây thương tích cho T, Tuấn A đem đi vứt ở rìa đường Q thuộc xã K, huyện K, đến nay không thu giữ được. Ngày 03/3/2024, Công an xã K tiến hành quản lý 01 chiếc ghế gỗ; 01 mũ bảo hiểm và 01 điếu cày bằng kim loại là những hung khí mà Tuấn A, Á, T sử dụng vào việc đánh nhau (do anh Mạc Trọng N giao nộp). Ngày 04/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K đã trả lại những tài sản trên cho chủ sở hữu.

Quá trình điều tra, Trần Tuấn A đã tự nguyện bồi thường cho Trần Minh T số tiền 15.000.000 đồng, T yêu cầu Tuấn A phải bồi thường tiền thuốc, viện phí, tổn thất về tinh thần và các chi phí khác cho việc điều trị thương tích là 230.000.000 đồng.

Trong vụ án này đối với hành vi của Trần Minh T dùng mũ bảo hiểm đánh Phạm Văn Á và dùng điếu cày đánh Trần Tuấn A; Phạm Văn Á dùng chân tay đánh Trần Minh T nhưng đều không gây thương tích, không đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự, ngày 03/7/2024, Công an huyện K đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Á và T theo quy định của pháp luật.

4

Tại bản Cáo trạng số 55/CT- VKS ngày 23/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành đã truy tố bị cáo Trần Tuấn A về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

* Bị cáo thừa nhận hành vi cố ý gây thương tích cho anh Trần Minh T và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

* Bị hại có mặt tại phiên tòa, xác định thương tích do bị cáo Trần Tuấn A gây ra và thừa nhận nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội của bị cáo có một phần lỗi vì đã sử dụng chiếc điếu cày bằng inox đánh vào mặt bị cáo. Về trách nhiệm hình sự đề nghị xét xử bị cáo nghiêm theo quy định của pháp luật. Về trách nhiệm dân sự: Xác định bị cáo đã bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, yêu cầu bị cáo phải tiếp tục bồi thường trách nhiệm dân sự số tiền 230.000.000 đồng.

* Người đại diện hợp pháp cho bị cáo xác định quá trình điều tra đã bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng, tại giai đoạn chuẩn bị xét xử gia đình đã tiếp tục nộp số tiền 30.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho bị cáo. Do bị hại yêu cầu bồi thường tiếp số tiền quá lớn nên không đủ khả năng bồi thường, đề nghị giải quyết vấn đề bồi thường theo quy định của pháp luật.

* Đại diện VKSND huyện Kim Thành giữ nguyên Quyết định truy tố; nêu những chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo; xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; khoản 1, 2, 5 Điều 65; Điều 91 và khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự. Tuyên bố Trần Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. Xử phạt bị cáo từ 24 tháng đến 27 tháng tù cho hưởng án treo, thời thử thách từ 48 tháng đến 54 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành thử thách của án treo.

- Về trách nhiệm dân sự, áp dụng: Điều 48 Bộ luật hình sự. Điều 584; 585, 586, 590; khoản 1 Điều 593; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Buộc bị cáo Trần Tuấn A (do ông Trần Văn Đ là người đại diện hợp pháp) phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho anh Trần Minh T với tổng số tiền từ 53 triệu đến 58 triệu đồng, được đối trừ số tiền đã bồi thường và số tiền tạm nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

* Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo: Xác định tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 91 và 101; khoản 1, 2

5

5 Điều 60 của Bộ luật hình sự và xem xét bị cáo có nhân thân tốt, lần đầu phạm tội, có nơi cư trú rõ ràng để xử phạt bị cáo 24 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 52.546.000 đồng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bào chữa và người đại diện hợp pháp cho bị cáo; bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận là người đã thực hiện hành vi cố ý gây ra thương tích cho anh Trần Minh T như Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành. Lời khai này của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại và phù hợp với lời khai của người làm chứng có trong hồ sơ vụ án; những lời khai này cũng phù hợp khách quan với các tài liệu, chứng cứ khác do Cơ quan cảnh sát điều tra đã thu thập trong hồ sơ vụ án. Có đủ căn cứ kết luận: Khoảng 17 giờ 50 phút ngày 02/3/2024, tại quán C thuộc thôn Q, xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương; do mâu thuẫn cá nhân nên Trần Anh T2 đã thực hiện hành vi cố ý dùng thanh kiếm tự chế bằng kim loại dài khoảng 60cm (là hung khí nguy hiểm) chém vào ngón 2, 3 bàn tay phải và vùng đỉnh chẩm trái của anh Trần Minh T gây tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Hành vi bị cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” với tình tiết định khung “Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến dưới 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

[3] Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo đã thực hiện nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ. Do vậy cần xét xử vụ án nghiêm minh mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật và mang tính răn đe, phòng ngừa chung.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự;

- Tại quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đều thành khẩn thừa nhận hành vi phạm tội, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bồi thường cho người bị hại số tiền 15.000.000đ; tại giai đoạn chuẩn bị xét xử người đại diện hợp pháp lại tiếp tục tạm nộp số tiền 30.000.000 đồng vào Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành để thực

6

hiện nghĩa vụ bồi thường; nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội xảy ra cũng có một phần lỗi của bị hại, do việc mâu thuẫn, xô sát giữa các bên đã được can ngăn, nhưng anh T vẫn dùng điếu cày vụt vào mặt Tuấn A. Do vậy, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

[5] Áp dụng quy định về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội:

Tính đến thời điểm thực hiện hành vi phạm tội thì tuổi của bị cáo Trần Tuấn A là 16 tuổi 02 tháng 09 ngày; do bị cáo thực hiện hành vi phạm tội khi chưa đủ 18 tuổi nên được áp dụng quy định về xử lý hình sự đối với người chưa đủ 18 tuổi phạm tội tại Điều 91 và Điều 101 của Bộ luật hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhân thân tốt và có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, là người chưa thành niên phạm tội và có nơi cư trú rõ ràng; việc áp dụng hình phạt tù cho hưởng án treo, giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát cũng đảm bảo hiệu quả giáo dục phòng ngừa và thể hiện sự nhân đạo của pháp luật.

[6] Trách nhiệm dân sự: Sau khi bị Trần Tuấn A gây thương tích, anh Trần Minh T phải điều trị tại Bệnh viện Q từ ngày 02/3/2024 đến ngày 11/3/2024 thì ra viện; điều trị tại Bệnh viện Q từ ngày 20/5/2024 đến ngày 27/5/2024 để tháo bỏ phương tiện kết hợp xương; tổng thời gian điều trị 2 lần tại bệnh viện là 16 ngày. Sau khi điều trị tại bệnh viện thì anh T điều trị tại gia đình 02 tháng thì tiếp tục đi học. Giai đoạn chuẩn bị xét xử bị hại yêu cầu bị cáo phải bồi thường về trách nhiệm dân sự với tổng số tiền bồi thường là 230.000.000 đồng.

Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ do bị hại giao nộp, Biên bản lấy lời khai của bị hại ngày 23/8/2024 và đối chiếu với quy định của pháp luật; Hội đồng xét xử xét thấy có căn buộc bị cáo phải bồi thường các khoản sau:

  1. Tiền thuê xe đi, về cấp cứu, điều trị tại Bệnh viện Q ngày 02/3/2024, về ngày 11/3/2024 và đi ngày 20/5/2024, về ngày 27/5/2024. Tổng số 4 lượt, mỗi lượt 300.000đồng x 4 lượt = 1.200.000 đồng.
  2. Tiền thuê xe đi khám lại tại Bệnh viện V và về vào ngày 12/3/2024: 1.100.000 đồng.
  3. Tiền thuê xe đi khám lại và về tại Bệnh viện V1 vào ngày 09/4/2024: 600.000 đồng.
  4. Tiền viện phí, tiền thuốc (sau khi đã trừ bảo hiểm thanh toán): 8.700.087 đồng.
  5. Tiền mất thu nhập của người chăm sóc (bà Nguyễn Thị L1) trong thời gian điều trị tại Bệnh viện Q từ ngày 02/3/2024 đến ngày 11/3/2024: Thu nhập bình quân tháng 1 + tháng 2 là: 430.000 đồng/01 ngày x 9 ngày = 3.870.000 đồng.
  6. Tiền mất thu nhập của người chăm sóc (ông Trần Văn H2) trong thời gian điều trị lần 2 tại Bệnh viện Q từ ngày 20/5/2024 đến ngày 27/5/2024 là: Thu nhập bình quân đầu người tại địa phương 239.500 đồng/01 ngày x 7 ngày = 1.676.500 đồng.
  7. Tiền chi phí bồi dưỡng, phục hồi sức khỏe: 200.000đồng/01 ngày x 02 tháng

7

= 12.000.000 đồng.

  1. Tiền bù đắp tổn thất tinh thần cho bị hại là: 10 tháng lương cơ sở x 2.340.000 đồng = 23.400.000 đồng.

Tổng số tiền buộc bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe đối với anh Trần Minh T là: 52.547.000 đồng (đã làm tròn số).

Giai đoạn điều tra và giai đoạn chuẩn bị xét xử người đại diện theo pháp luật của bị cáo đã bồi thường 15.000.000 đồng và nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành số tiền 30.000.000 đồng để thực hiện nghĩa vụ bồi thường (Số tiền bồi thường 30.000.000 đồng đã được ông Trần Văn Đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành theo Biên lai ký hiệu BLTT/23, số 0001079 ngày 27/8/2024; Biên lai ký hiệu BLTT/23, số 0001081 ngày 05/9/2024). Đối trừ nghĩa vụ bồi thường với số tiền đã bồi thường và đã tạm nộp để thực hiện nghĩa vụ bồi thường, buộc bị cáo Trần Tuấn A phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Minh T số tiền 7.547.000 đồng.

[7] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra có thu giữ một số vật chứng liên quan đến việc giải quyết vụ án, nhưng sau đó đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp, những người này đã nhận lại tài sản, không có yêu cầu gì nên không đặt ra giải quyết.

[8] Án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.

Vì lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

* Căn cứ vào: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 48; khoản 1, 2 5 Điều 65; Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự. Điều 584; 585, 586, 590; khoản 1 Điều 593; Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự. Điều 136; Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Luật phí, lệ phí; Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

* Tuyên bố: Trần Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

* Xử phạt: Trần Tuấn A 02 năm 02 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 04 năm 04 tháng tính từ ngày tuyên án 19/9/2024.

Giao bị cáo Trần Tuấn A cho UBND xã K, huyện K, tỉnh Hải Dương giám sát, giáo dục trong thời gian chấp hành thử thách của án treo.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

* Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo phải thực hiện nghĩa vụ bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho bị hại là anh Trần Minh T, sinh năm 2002; địa chỉ: Thôn T, xã K, huyện

8

K, tỉnh Hải Dương tổng số tiền: 52.547.000 đồng (đã làm tròn số). Số tiền bồi thường này được đối trừ vào số tiền 15.000.000 đồng đã bồi thường và số tiền 30.000.000 đồng đã tạm nộp tại Chi cục thi hành án huyện Kim Thành (Số tiền bồi thường 30.000.000 đồng đã được ông Trần Văn Đ nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Kim Thành theo Biên lai ký hiệu BLTT/23, số 0001079 ngày 27/8/2024; Biên lai ký hiệu BLTT/23, số 0001081 ngày 05/9/2024). Đối trừ nghĩa vụ bồi thường với số tiền đã bồi thường và đã tạm nộp để thực hiện nghĩa vụ bồi thường, buộc bị cáo Trần Tuấn A phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ bồi thường cho anh Trần Minh T số tiền 7.547.000 đồng.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

* Án phí: Bị cáo Trần Tuấn A phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và 377.000 đồng (đã làm tròn số) án phí dân sự sơ thẩm.

* Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm; có mặt bị cáo và người bào chữa, người đại diện hợp pháp cho bị cáo, bị hại. Đã báo cho bị cáo, người bào chữa, người đại diện hợp pháp và bị hại biết được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, tính từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự;

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

* Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kim Thành.
  • - CQCSĐT - Công an huyện Kim Thành.
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉnh Hải Dương.
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ - CA huyện Kim Thành.
  • - Cơ quan THA hình sự-Công an huyện Kim Thành.
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành.
  • - VKSND tỉnh Hải Dương.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương.
  • - Bị cáo, người bào chữa, người ĐDHP.
  • - Bị hại.

Chu Văn Nghĩa

9

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIMTHANH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Số: 08/2024/TB-TA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Kim Thành, ngày 27 tháng 9 năm 2024

THÔNG BÁO

SỬA CHỮA, BỔ SUNG BẢN ÁN

Căn cứ các điều 45, 260 và 261 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Xét thấy bản án hình sự sơ thẩm số 66/2024/HSST ngày 19/9/2024 xét xử đối với vụ án hình sự thụ lý số 57/2024/HSST ngày 01/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương cú lỗi do sai sút đỏnh mỏy cần được sửa chữa, bổ sung như sau:

1. Về nội dung tại phần ngày ban hành của Bản án sơ thẩm nêu trên đã ghi: “Ngày: 19/9/2023”.

Nay được sửa chữa, bổ sung như sau: “Ngày: 19/9/2024”.

Nơi nhận:

  • - VKSND huyện Kim Thành.
  • - CQCSĐT - Công an huyện Kim Thành.
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ - CA tỉnh Hải Dương.
  • - Bộ phận hồ sơ nghiệp vụ - CA huyện Kim Thành.
  • - Cơ quan THA hình sự-Công an huyện Kim Thành.
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành.
  • - VKSND tỉnh Hải Dương.
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương.
  • - Bị cáo, người bào chữa, người ĐDHP.
  • - Bị hại.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Chu Văn Nghĩa

10

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 66/2024/HSST ngày 19/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 66/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Tuấn A phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger