|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN TỈNH AN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 66/2024/HS-ST Ngày 19 tháng 7 năm 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Linh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đặng Thanh Liêm và ông Trần Quang Thái.
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Thắng - Thư ký Toà án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Trọng Hữu - Kiểm sát viên
Ngày 19 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 50/2024/TLST-HS ngày 19 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 71/2024/QĐXXST- HS ngày 05 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Trần Thị Tuyết N, sinh ngày 01/01/1993, tại huyện C, tỉnh An Giang; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Khóm T, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang. nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; đảng, đoàn: Không; con ông Trần Văn H và bà Lê Thị T (chết); chị em ruột có 4 người, bị cáo là người thứ tư; chồng Lê Đức L, sinh năm 1988; con có 03 đứa, lớn nhất sinh năm 2013, nhỏ nhất sinh năm 2022; tiền án, tiền sự: Không.
Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/3/2024 đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Bà Trần Thị N1, sinh năm 1975 (có mặt)
Địa chỉ: Khóm P, thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang
Người làm chứng: Bà Trần Thúy L1 (vắng mặt) và bà Đoàn Thị Kim N2 (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ ngày 02/11/2023, Trần Thị Tuyết N đến chợ P tại khóm T, thị trấn P, huyện T mở cửa sạp bán trái cây, được một lúc thì Trần Thị N1 là nhân viên thu tiền của chợ, đến thu tiền hoa chi sạp trái cây của N, lúc này N nhớ lại chuyện trước đây, N1 thường hay hỏi mọi người trong chợ về thông tin cá nhân của Trần Thị B (chị ruột của N) nên N hỏi N1 ý muốn gì, dẫn đến xảy ra cự cãi, N1 dùng tay đánh trúng vào ngực của N 01 cái nhưng không gây thương tích, N cầm nón bảo hiểm màu tím, kích thước (27.5 x 13)cm đánh trả trúng vào vùng đầu của N1 nhiều cái được Trần Thúy L1, Đoàn Thị Kim N2 can ngăn. Nhường đến Bệnh viện Đ thăm khám, điều trị và ra viện cùng ngày. Ngày 06/11/2023, N1 có đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Vật chứng thu giữ: 01 (một) nón bảo hiểm màu tím, kích thước (27.5 x 13)cm; 01 (một) nón bảo hiểm màu hồng, kích thước (25 x 28)cm. Đến ngày 20/3/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện T trả lại cho N nón bảo hiểm màu hồng, kích thước (25 x 28)cm.
Tại Kết luận giám định pháp y về thương tích số 834 ngày 14/12/2023 của Trung tâm pháp y tỉnh A ghi nhận thương tích của Trần Thị N1, sinh năm 1975: Các kết quả chính: Chấn thương vùng đầu gây sưng nề, bầm tím vùng thái dương trái phía sau tai trái hiện không để lại thương tích, tỷ lệ 00%; chấn động não gây đau đầu, chóng mặt không để lại di chứng tỷ lệ 03%; sưng nề, bầm máu vùng cổ sau hiện tại không để lại thương tích, tỷ lệ 00%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03%.
Công văn số 04 ngày 30/01/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh A, xác định: Thương tích của Trần Thị N1 do vật tày gây nên. Khả năng do nón bảo hiểm gây nên, vết thương thẩm mỹ không gây ra thương tích này.
Tại Cáo trạng số 56/CT-VKS-HS ngày 12/6/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Trần Thị Tuyết N về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Tại Cơ quan điều tra bị cáo Trần Thị Tuyết N thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã nêu trên.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận hành vi như cáo trạng đã nêu và đồng ý công khai xin lỗi bị hại tại Chợ thị trấn P.
Bị hại đề nghị Hội đồng xét xử xử lý hành vi của bị cáo đúng quy định của pháp luật; không yêu cầu bị cáo bồi thường thiệt hại số tiền 7.000.000 đồng mà yêu cầu bị cáo thực hiện công khai xin lỗi tại Chợ thị trấn P.
Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với các bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 134, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết N từ 6 (sáu) tháng đến 01 (một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 01 (một) đến 02 (hai) năm.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại tại phiên tòa, buộc bị cáo phải thực hiện công khai xin lỗi bị hại tại Chợ thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; thời gian thực hiện do hai bên tự thỏa thuận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm màu tím không còn giá trị sử dụng.
Bị cáo Trần Thị Tuyết N không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
- Tại phiên tòa người làm chứng vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai của bị hại và người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận: Vào lúc 07 giờ 30 phút, ngày 01/11/2023, bị cáo Trần Thị Tuyết N đã có hành vi dùng mũ bảo hiểm đánh trúng vào vùng đầu của bị hại là bà Trần Thị N1 gây thương tích với tỷ lệ 3%.
Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức được việc dùng nón bảo hiểm đánh vào người khác có khả năng gây thương tích nhưng bị cáo vẫn thực hiện thuộc trường hợp phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ xảy ra trước đó giữa bị cáo và bị hại mà bị cáo đã dùng nón bảo hiểm đánh gây thương tích cho bị hại đây là tình tiết định tội theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát truy tố và kết luận bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội cố ý gây thương tích theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khoẻ của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an, ảnh hưởng an toàn xã hội. Do đó, việc đưa bị cáo ra truy tố, xét xử trước pháp luật là cần thiết nhằm răn đe, giáo dục bị cáo, đồng thời góp phần đấu tranh phòng chống tội phạm. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt cũng cần xem xét đến nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự.
[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, thật sự ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn, trình độ học vấn thấp, bị cáo còn đang nuôi con nhỏ dưới 36 tháng tuổi đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị hại đã rút lại yêu cầu bồi thường số tiền 7.000.000 đồng, chỉ yêu cầu bị cáo thực hiện công khai xin lỗi tại Chợ thị trấn P, bị cáo cũng đồng ý với yêu cầu của bị hại nên Hội đồng xét xử công nhận sự tự nguyện của bị cáo và bị hại, buộc bị cáo phải thực hiện công khai xin lỗi bị hại tại Chợ thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang; thời gian thực hiện hai bên tự thỏa thuận.
[6] Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm màu tím, kích thước (27.5 x 13) cm do không còn giá trị sử dụng.
[7] Về các vấn đề khác: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thị Tuyết N phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Trần Thị Tuyết N 06 (sáu) tháng tù cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án (19/7/2024).
Giao bị cáo Trần Thị Tuyết N cho UBND thị trấn P, huyện T, tỉnh An Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
(Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo).
Căn cứ Điều 46, 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy một nón bảo hiểm màu tím, kích thước (27.5 x 13) cm không còn giá trị sử dụng.
(Đặc điểm tang vật như Quyết định chuyển vật chứng ngày 12/6/2024).
Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Trần Thị Tuyết N phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Mỹ Linh |
Bản án số 66/2024/HS-ST ngày 19/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG về cố ý gây thương tích (hình sự)
- Số bản án: 66/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích (Hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THOẠI SƠN, TỈNH AN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: xử phạt tù
